1. Y học từ xa
(Telemedicine) là cung cấp các dịch vụ chǎm sóc sức khỏe giữa những chủ thể bị
ngǎn cách về mặt địa lý (E.Coiera 1997) (1). Cụm từ "dịch vụ chǎm sóc sức khỏe"
ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chẩn đoán và điều trị, cung cấp
thuốc men và thiết bị, tư vấn và khuyên bảo, dự phòng và phục hồi, bảo hiểm y
tế, cũng như những hoạt động cơ bản đảm bảo cho những dịch vụ cụ thể này: giảng
dạy, nghiên cứu, thống kê v.v...
Kỹ thuật là để mở
rộng những khả nǎng vốn bị hạn chế bởi con người. Một trong những hạn chế đó là
hạn chế về mặt không gian. Khả nǎng trước hết để mở rộng tầm hoạt động không
gian của con người là sử dụng các kỹ thuật viễn thông, truyền thông tin dưới
dạng âm thanh, tín hiệu, hình ảnh vượt qua khoảng cách, Chẳng hạn chúng ta đều
biết đến kỹ thuật truyền hình ảnh từ phòng mổ, để có thể quan sát, theo dõi,
điều chỉnh ca mổ từ những khoảng cách rất xa.
Y học là một lĩnh
vực đặc biệt, trong đó thông tin vừa nhiều, vừa phong phú lại vừa đa dạng về
chuyên ngành. Để chẩn đoán cho một bệnh nhân, chúng ta cần thông tin về bệnh sử,
thông tin kết quả thǎm khám như: xét nghiệm (xét nghiệm huyết học, sinh hoá, vi
sinh, tế bào... ), thông tin về chẩn đoán chức nǎng (Điện tim ECG, điện não EEG,
hô hấp...), thông tin về hình ảnh (X-quang, siêu âm, CT, MRI...), thậm chí cả
những ngân hàng dữ liệu chứa đựng những tri thức hỗ trợ cho việc ra quyết định.
Vì vậy, việc ứng dụng tin học trong y học đã nhanh chóng trở thành một trong
những lĩnh vực chủ yếu của tin học ứng dụng (Medical Computing). Khi mạng máy
tính ra đời, lập tức xuất hiện các mạng đặc thù dùng riêng cho các bệnh viện :
HIS - Hospital information System, RIS - Radiological information System, LIS -
Labor information System... Tổng kết ở các nước tiên tiến đều đi đến một kết
luận duy nhất: việc ứng dụng các mạng này trong y tế đã tǎng cao một cách đáng
kể hiệu quả phục vụ và giảm thiểu chi phí ở tất cả các bệnh viện, nhờ vào việc
lưu trữ, xử lý, truyền tải thông tin một cách có hệ thống, nhanh chóng, chính
xác.
Một bước tiếp
theo tất yếu và logic: kết nối các mạng cục bộ tại từng bệnh viện bằng các đường
truyền viễn thông. Sự kết nối này đã đưa tới một sự thay đổi về chất trong
phương thức hoạt động của các bệnh viện. Nếu mạng máy tính cho phép ta sử dụng
chung tài nguyên của mỗi máy tính, thì kết nối mạng các bệnh viện tạo điều kiện
cho chúng ta khai thác chung tiềm nǎng của mỗi bệnh viện ấy: máy móc, chuyên
gia, tư liệu, tri thức... Trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin như vậy, y học
có được những khả nǎng kỹ thuật mới: ta có thể chẩn đoán hình ảnh từ xa
(Teleradiology), tư vấn từ xa (Teleconsulting), hội chẩn từ xa (Telediagnostics,
video-conferencing)... Những dịch vụ mở rộng trên nền tảng đó cũng xuất hiện: sự
phối hợp theo vùng địa lý, sự phối hợp theo cùng chuyên khoa, sự chǎm sóc các
bệnh nhân đặc biệt... Cần nhấn mạnh thêm, bên cạnh việc khắc phục hạn chế về
không gian, các mạng máy tính diện rộng trong y học còn cho ta khả nǎng khắc
phục cả hạn chế về thời gian và điều này đem lại rất nhiều lợi thế. Đó chính là
nội dung và khuôn mặt y học từ xa trong giai đoạn hiện nay.
Chính trên những
nền tảng này, đã nẩy sinh ngành khoa học mới với tư cách một giao ngành, cho dù
thuật ngữ cụ thể được sử dụng đôi khi có thể khác nhau: Medical informatics,
Clinical informatics, information Technology in Health Care... Chúng ta quan tâm
tới y học từ xa cả trên phương diện học thuật và cả trên phương diện ứng dụng.
2. Thực chất của
y học từ xa hiện nay là ứng dụng công nghệ mạng. Bước một là tổ chức tốt các
mạng máy tính trong từng bệnh viện, bước hai là tổ chức đường truyền để kết nối
các mạng ấy trong một hệ thống.
Dù quy mô các
bệnh viện là hết sức khác nhau, trong từng bệnh viện lại có những chức nǎng cụ
thể và những trọng tâm chuyên môn khác nhau, nhưng dòng thông tin và yêu cầu về
thông tin ở các bệnh viện về cơ bản là như nhau. Trước hết, đó là dòng thông tin
quản lý, liên quan tới quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật
chất và nhất là quản lý bệnh nhân, phần cơ bản nhất và đặc trưng nhất trong y
tế. Thứ hai là dòng thông tin liên quan đến bệnh nhân, trong đó phân ra bệnh
nhân nội trú và bệnh nhân ngoại trú, với khu vực cận lâm sàng là khu vực dùng
cho cho cả hai dòng bệnh nhân này. Những thông tin tổng quát trong bệnh viện như
vậy được chứa đựng trong mạng HIS. Cỡ 60 - 70% thông tin thường được truy cập
trong bệnh viện liên quan đến mạng HIS.
Một khoa rất quan
trọng trong bệnh viện là khoa chẩn đoán hình ảnh (Radiology - Imaging). Vì đây
là điểm nút hầu như tất cả bệnh nhân trong bệnh viện phải đi qua, vì dữ liệu
chẩn đoán hình ảnh vừa nhiều lại vừa có tính đặc thù cao, các mạng máy tính liên
quan đến khoa chẩn đoán hình ảnh phát triển rất sớm và cũng khá phong phú. Lúc
đầu là mạng RIS, giúp cho quản lý điều hành khoa có hiệu quả hơn, như lên lịch
hẹn bệnh nhân, tối ưu hoá công tác chẩn đoán... Sau đó phát triển mạng PASC
(Picture archiving and Communication System), nhằm lưu trữ, phân phối và truyền
hình ảnh, nâng cao chất lượng chẩn đoán. Chính nhờ PACS mà có thể truyền hình
ảnh thực hiện chẩn đoán hình ảnh từ xa (Teleradiology). Cũng cần nhấn mạnh rằng,
Teleradiology là phần phát triển sớm nhất của y học từ xa, khởi đầu từ những
công trình của Jutra & CS (1959) (2) và càng ngày càng lên tới những đỉnh cao
mới theo sự hoàn thiện dần của công nghệ đường truyền.
Như vậy, sơ đồ
cǎn bản của y học từ xa trong bước khởi đầu có thể là:
Lẽ đương nhiên,
nhiều bệnh viện có thể tham gia mạng diện rộng và các sơ đồ kết nối cũng có thể
khác nhau.
Hiện nay, ở Mỹ, y
tế hành xử như một ngành công nghiệp, trong đó công nghệ thông tin là công nghệ
chủ đạo. Trong mạng y tế thống nhất toàn quốc, có sự tham gia đầy đủ của 7 thành
viên: các bệnh viện, phòng mạch tư và phòng khám, labor xét nghiệm, các công ty
dược, các công ty cung cấp thiết bị y tế, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo (R&D),
các cơ quan bảo hiểm y tế. Mạng này được gọi là Metropolitan area Network và
thực hiện được rất nhiều các dịch vụ từ xa (3). Trong mạng này thống nhất vô số
ứng dụng và đòi hỏi sự chuẩn hoá nghiêm ngặt thông tin cũng như áp dụng các công
nghệ hiệu quả nhất để đảm bảo tương quan đầu tư - lợi ích. Nǎm 1996 đầu tư cho
Công nghệ thông tin y học ở Mỹ là 6,7 tỷ USD.
Để từ xa có thể
can thiệp, chẩn đoán, ra quyết định về một ca bệnh bất kỳ, điều trước hết là
phải có đầy đủ thông tin về ca bệnh đó. Những thông tin này phải được tổ chức
hợp lý, tập hợp lại rồi gửi đi một cách trọn vẹn. Nhiều khi các hình ảnh và dữ
liệu của bệnh nhân phân tán theo thời gian, không gian và nằm rải rác. Bởi thế,
bài toán về y học từ xa dựa trên bài toán về tổ chức và quản lý hệ thông tin
trong bệnh viện.
3. Y học từ xa
dựa trên công nghệ mạng là một trong những hướng phát triển mạnh của y học trong
những nǎm gần đây. Để đáp ứng những thách thức có tính cách mạng của nền y tế
hiện đại và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, đòi hỏi không chỉ những nỗ
lực quốc gia mà cần cả những nỗ lực quốc tế, hơn nữa: nỗ lực một cách thống
nhất.
Đáng lưu ý là Dự
án châu âu HANSA (Health Advanced Networked System Architecturre - Kiến trúc hệ
thống mạng phục vụ sức khoẻ) (4). Dự án này quan tâm đến một số vấn đề lớn, có
tính nguyên tắc: xác định những tiêu chuẩn thiết kế và sơ đồ kiến trúc của HIS,
công nghệ Internet, bệnh án điện tử; chuẩn hoá thông tin và đào tạo nhân lực.
Các kiến trúc 3 lớp (hạ tầng cơ sở- phần cứng, ứng dụng- phần mềm và khai thác
dịch vụ- y học), kiến trúc 3 chiều (chuyên sâu y học, thích ứng kinh tế và kỹ
thuật) cũng như mô hình kiến trúc mở đã được khảo sát và thử nghiệm với nhiều ý
kiến ủng hộ thiên về cấu trúc 3 lớp. Từ những nghiên cứu này đã tiến tới những
tiền đề cho những tiêu chuẩn hoá về kiến trúc mạng trong bệnh viện, được công bố
trong các vǎn bản chính thống của CEN (ủy ban châu âu về tiêu chuẩn hoá- Comitee
European de Nomlalisation).
Bệnh án điện tử
(EPR -Electronic Patient Record) là một chủ đề vừa hấp dẫn, vừa phức tạp, vừa
hết sức thực tiễn lại vừa phong phú về công nghệ. Trong bệnh án của một bệnh
nhân có hầu hết thông tin từ mọi nguồn dữ liệu trong bệnh viện: kết quả xét
nghiệm, ảnh chụp X- quang, cộng hưởng từ, các phiếu chẩn đoán chức nǎng, kết quả
nội soi, kết quả chẩn đoán chung và liệu trình điều trị bao gồm cả thǎm khám lẫn
thuốc men- phẫu thuật... kể cả những thông tin cơ bản để tính tiền viện phí. Nếu
ban đầu, bệnh án chỉ nhằm phục vụ cho công tác điều trị thì hiện nay, ngoài mục
tiêu cơ bản đó, bệnh án còn được xem như là một tài liệu pháp lý về hoạt động y
tế trên bệnh nhân, có tác dụng hỗ trợ nghiên cứu (nghiên cứu lâm sàng, nghiên
cứu dịch tễ, nghiên cứu chất lượng chǎm sóc sức khoẻ, nghiên cứu tác dụng của
thuốc), có vai trò quan trọng trong đào tạo, nghiên cứu và cũng có ý nghĩa đối
với việc quản lý và điều hành bệnh viện nói chung (lập hoá đơn chứng từ, tính
tiền, hỗ trợ nghiên cứu về tổ chức, quản lý giá thành). Chuyển tất cả những
thông tin đó thành dữ liệu có cấu trúc là vấn đề rất nan giải. Dự án DIFF của
Luxemburg mất 4 nǎm để giải quyết bài toán này, trong đó riêng 18 tháng đầu là
xác định nội dung tối thiểu của EPR, 14 tháng tiếp sau là phát triển- tích hợp-
hoàn thiện một tập hợp các thành phần phần mềm để có được EPR và cuối cùng là
hội nhập-ghép nối với tất cả những thành phần đã có. Hiện nay, đã xuất hiện các
bệnh án dưới dạng đa truyền thông (MMR- Multi Media Record) rất hay được sử dụng
phối hợp với PACS trong chẩn đoán hình ảnh từ xa.
Các chuẩn thông
tin đóng vai trò quan trọng trong các mạng cơ bản phục vụ cho y học từ xa. Tại
Mỹ có chuẩn EDI cho y tế ( EDI- Electronic Da ta Interchange ). Tại châu âu; CEN
cũng đưa ra những chuẩn tương thích của mình. Chúng ta đã biết một chuẩn khá phổ
biến là chuẩn
DICOM (Digital Imaging and Communication in Medicine - Hình ảnh và truyền
tải số trong y học) dùng cho chẩn đoán hình ảnh. Chuẩn này được dùng trong các
thiết bị sinh hình, mạng PACS, các trạm làm việc và các bộ lưu trữ. Tất cả các
hãng công nghiệp chế tạo thiết bị y tế đều phải tuân theo chuẩn này. Hay nói một
cách khác hơn, chính giới công nghiệp đã xác lập nên các tiêu chuẩn này và hiện
họ tiếp tục chia ra 20
nhóm làm việc
trong 3 tiểu ban để xác lập những chuẩn mới. Để trao đổi thông tin y tế chúng ta
có chuẩn HL 7, có từ nǎm 1987. HL 7 có tới 450 tổ chức thành viên và chiếm tới
65 % lượng thông tin trong bệnh viện. Chuẩn này được dùng trong việc xác lập các
dữ liệu liên quan đến bệnh nhân, các kết quả thǎm khám lâm sàng, nhập- chuyển-
ra viện, các kết quả xét nghiệm, dùng thuốc... Chuẩn thứ ba là CORBAMED (Common
Object Request Broker Architecture). Đây là chuẩn có ưu việt lớn trong nhận dạng
nhân sự.
Với tư cách một
ngành khoa học độc lập và có những ứng dụng mạnh mẽ, công nghệ thông tin y học -
trong đó có y học từ xa, đòi hỏi một đội ngũ cán bộ chuyên ngành được đào tạo
cǎn bản, hệ thống. ở Mỹ, Medical Informatics được khẳng định là một nghề riêng
biệt ( 5 ). Cộng đồng châu âu đưa ra hẳn một khuyến cáo - R (90) 21 đề nghị
chính phủ tất cả các nước thành viên châu Âu:
a. Đảm bảo rằng
tất cả các thành viên tham gia làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin y học
đều được đào tạo liên ngành, cả lý thuyết lẫn thực tiễn
b. Phát triển
chiến lược đào tạo riêng cho các hệ thống sức khoẻ cộng đồng
c. Xác lập hệ
thống hợp tác quốc tế để tǎng cường trao đổi kiến thức và nguồn tin trong một
lĩnh vực mới đang phát triển nhanh chóng. Theo những quan niệm chung thống nhất
ấy, đào tạo công nghệ thông tin y học là một thể hoàn chỉnh, từ sơ cấp, tới
trung cấp và cao cấp. Sau khi tốt nghiệp, người được đào tạo vừa có khả nǎng
hành nghề lại vừa có khả nǎng phát triển. Trong phát triển đảm bảo cả 2 hướng:
phát triển về học thuật (học vị, học hàm) và phát triển về tương lai tiền đồ
(lương bổng, chức vụ). Về mặt nội dung, đây là lĩnh vực liên ngành và giao ngành
giữa y học và tin học. Nói chung những liên ngành như vậy thường là một thách
thức lớn đối với các nước đang phát triển hoặc chưa phát triển và rất dễ bị bẻ
lệch sang các định hướng đơn ngành (thuần túy y học có chắp vá tin học, hay
thuần túy tin học được bổ sung một số kiến thức gọi là về y học). Cũng giống như
tất cả các lĩnh vực khác, trong công nghệ thông tin y học, việc đào tạo nguồn
nhân lực luôn có ý nghĩa quyết định nhưng lại dễ bị bỏ qua trong những giai đoạn
ban đầu.
Một dự án phát
triển y học từ xa dựa trên công nghệ mạng cần bao quát toàn bộ những yếu tố có
tính chiến lược nêu trên ngay từ nhưng nét phác thảo ban đầu.
4. Trong một chủ
đề lớn lao và phức tạp như vậy, bao giờ cũng phải tự chọn cho mình một bước xuất
phát hợp lý, vừa khả thi, vừa có hiệu quả lại vừa tạo tiền đề cho sự phát triển
liên tục về sau, tiếp cận những công nghệ mới hiện đại nhất. Không có một quy
tắc chung nào cho bước khởi đầu này, nhưng thờng thì c hai khả nng: hoc xuất
phát từ chẩn đoán hình ảnh, hoặc xuất phát từ quản lý bệnh nhân.
Chẩn đoán hình
ảnh từ xa đã trở thành một thí dụ kinh điển và đầy tính thuyết phục cho y học từ
xa. Các hình ảnh cần thiết dùng cho chẩn đoán được truyền theo đường viễn thông
về những trung tâm lớn có những chuyên gia giỏi. Tại đây, các chuyên gia sẽ đưa
ra lời chẩn đoán của mình và kết quả được gửi trở lại nơi có bệnh nhân. Toàn bộ
quy trình có thể được tiến hành trực tuyến (on line) hay không trực tuyến (off
line), tuy nhiên độ trễ về thời gian nếu có cũng có thể chấp nhận được về mặt y
học. Nếu bệnh viện có nhiều máy chẩn đoán hình ảnh- ta gọi là các thiết bị sinh
hình (Modalities)- thì trước khi truyền hình ảnh đi, ta tổ chức một mạng PACS
tại từng bệnh viện. Bây giờ, công tác chẩn đoán bằng hình ảnh có thể được thực
hiện từ bất cứ nơi nào trong bệnh viện: tại vǎn phòng khoa chẩn đoán hình ảnh,
tại phòng hội chẩn- giao ban, tại các khoa điều trị, miễn là ở nơi đó có cài đặt
một trạm làm việc với phần mềm tương ứng. Nghĩa là những khoảng cách vốn là trǎn
trở trong từng bệnh viện cũng đã được khắc phục. Để làm được điều ấy, hình ảnh ở
các thiết bị sinh hình phải có chuẩn
DICOM, ảnh
phải được lấy ra từ đây theo phương thức số hoá, đưa ảnh về một máy chủ rồi từ
đó lưu trữ, phân phối về các máy trạm. Công nghệ này giúp nâng cao chất lượng
chẩn đoán bằng phương pháp "ý kiến thứ hai" (second opinion). Lẽ đương nhiên,
phần cứng của PACS cũng đòi hỏi những yêu cầu xác định, ngoài ra còn có phần mềm
quản lý hệ thống cũng như phần mềm chuyên dụng để xem hình, xử lý hình, lưu trữ
và phân phối hình. Bước tiếp theo là sử dụng một máy chủ truyền thông để gửi
hình từ mạng PACS cục bộ này tới mạng PACS cục bộ ở trung tâm khác, ở bệnh viện
khác. Kết quả cuối cùng: ở bất cứ nơi nào có trạm làm việc, không phụ thuộc vào
khoảnh cách, chúng ta có thể xem hình, xử lý hình, in hình để hoàn thiện một ca
chẩn đoán bằng hình ảnh, giống hệt như ta ngồi ngay bên thiết bị sinh hình.
Nếu trong các
thiết bị sinh hình có thiết bị tương tự, lẽ đương nhiên ta phải thực hiện các kỹ
thuật số hoá. Nhưng các thiết bị này sẽ rất đắt, nếu đòi hỏi chất lượng cao về
hình ảnh. Cho nên, chúng ta nên chọn mua các thiết bị ngay từ đầu tương thích
với mạng để tránh các lãng phí về sau.
5. Thời gian qua,
ở Việt Nam đã có nhiều cố gắng để thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh từ xa.
Điều này xuất phát từ đòi hỏi thực tế: nhiều cơ sở y tế đã mua những thiết bị
chẩn đoán hình ảnh có giá trị, chủ yếu là CT và đôi khi muốn xin một "chẩn đoán
thứ cấp " từ những trung tâm y học lớn có những chuyên gia giỏi, hay đơn thuần
chỉ là trao đổi kinh nghiệm, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu... Nghĩa là
chúng ta cần có công nghệ teleradiology. Dự án "Y học từ xa" của Bộ Quốc phòng
giai đoạn mở đầu thực hiện vào nǎm 2000 là một nỗ lực đáp ứng nhu cầu đó.
Các thành viên
tham gia dự án: bệnh viện Trung ương quân đội 108 (Hà Nội) và Quân y viện 175
(Tp. Hồ chí Minh). Tại mỗi bệnh viện đều thiết lập một mạng LAN kết nối 2 máy
chẩn đoán hình ảnh chủ yếu là CT và Siêu âm. Dùng 3 máy tính bình thường làm 3
trạm làm việc: 1 ở máy CT, 1 ở máy Siêu âm và 1 ở phòng giao ban. Nhờ một card
mạng và phần mềm tương ứng, hình số hoá được lấy ra từ máy sinh hình và chuyển
sang mạng. Các trạm làm việc vừa đảm bảo xem hình (view) , vừa thực hiện chức
nǎng hậu xử lý (postprocessing): thay đổi độ rộng cửa sổ, mức cửa sổ - Đảo hình,
xoay hình- Khuếch đại soi kính (Magnifying Glass)- Phóng đại hình theo các hệ số
hay vùng yêu cầu- Đo khoảng cách và đo góc- Đo tỷ trọng cho từng điểm - Chú
thích trên hình- Có thể xem từng hình hay đa hình đồng thời. Hình ảnh lưu chuyển
trên mạng theo chuẩn
DICOM, nghi
thức TCP/IP. Khi cần thiết, có thể ghép TCP/IP vào mạng máy Laser Camera theo
chuẩn DICOM và
khi đó có thể in phim trên mạng và tiết kiệm được máy in ở các thiết bị sinh
hình. (Trước đây mỗi thiết bị sinh hình đều có 1 máy in, sau khi có mạng, chỉ
cần 1 máy in phim dùng chung cho tất cả các thiết bị sinh hình). Thông qua một
máy chủ truyền thông, toàn bộ hình ảnh cần thiết cho chẩn đoán có thể truyền từ
Bệnh viện Trung ương quân đội 108 vào QY viện 175 và ngược lại, đây chính là kỹ
thuật cơ bản giúp cho công tác chẩn đoán hình ảnh từ xa.
Nhờ các trạm làm
việc, công tác chẩn đoán không chỉ được thực hiện ở bên máy CT hay SÂ như trước
đây. Các bác sĩ có thể tham gia chẩn đoán mà không trực tiếp can thiệp vào thiết
bị sinh hình. Điều này góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán. Trong mạng LAN,
hình ảnh chẩn đoán được tổ chức lại, được lưu trữ và khi cần có thể tìm lại và
cho tái hiện hình nhanh chóng, đấy là cơ sở để nâng cao chất lượng của công tác
thông tin. Từ đó, hình thành một ngân hàng dữ liệu về hình ảnh và tạo tiền đề
cho công tác nghiên cứu, công tác đào tạo ở một trình độ mới. Hơn nữa, ta có
điều kiện cân nhắc để chỉ chọn in những phim cần thiết, hoặc phối hợp nhiều máy
sinh hình để dùng chung một thiết bị in phim..., dẫn tới tiết kiệm đáng kể trong
lĩnh vực in phim, một chi phí tiêu hao khá tốn kém trong bệnh viện hiện nay. Đấy
là cái lợi nằm ngay trong bản thân một bệnh viện. Điều quan trọng hơn nữa, là
khả nǎng chuyển hình ảnh đi xa, tạm thời chỉ sử dụng đường truyền điện thoại
thông thường và các MODEM, tạo khả nǎng chẩn đoán từ xa, hội chẩn từ xa, tư vấn
từ xa... góp phần đáng kể nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh. Trong giai
đoạn ban đầu, một hệ thống như trên không phải là tốn kém.
6. Những ứng dụng
của y học từ xa rất phong phú. Trước hết là trong lĩnh vực chẩn đoán điều trị,
trong bản thân từng bệnh viện như vừa nêu rõ ở trên. Đặc biệt nhấn mạnh sự phối
hợp giữa các bệnh viện, vai trò hướng dẫn của các chuyên gia đầu ngành ở các
trung tâm lớn trong hệ thống chỉ đạo tuyến giúp các bác sĩ tuyến dưới được hỗ
trợ nhiều hơn khi ra những quyết định cuối cùng. Teleradiology mới chỉ là điểm
mở đầu, với Internet và người máy còn có thể thực hiện phẫu thuật qua mạng. Thứ
hai, trong lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo: chưa bao giờ cán bộ y học có khả nǎng
tiếp cận một hệ thống thông tin nhiều như thế, được tổ chức tốt như thế, phong
phú như thế. Hãy tưởng tượng bác sĩ ngồi ở trạm làm việc ngay tại khoa của mình-
thậm chí ở một bệnh viện xa xôi- với khả nǎng có được tất cả thông tin về bệnh
nhân, cả xét nghiệm lẫn hình ảnh, cả mô tả lẫn định lượng, cả hiện tại lẫn quá
khứ- quá khứ gần và quá khứ xa..., rồi bác sĩ lại có thể truy cập đến những
thông tin mới nhất liên quan tới trường hợp mình đang quan tâm để tham khảo,
đồng thời trực tiếp liên hệ và gửi tư liệu để xin ý kiến các chuyên gia đầu
ngành ... Chỉ bằng động tác nhấn chuột Clic- Clic...Tất cả những khả nǎng đó về
thông tin giúp bác sĩ vừa nâng cao trình độ, vừa nâng cao chất lượng các dịch vụ
y tế. Đó thực sự là một công nghệ mới trong đào tạo, nghiên cứu và điều trị.
Y học từ xa trên
cơ sở công nghệ mạng còn là một công cụ đặc biệt hữu hiệu trong chỉ đạo và quản
lý. Trên cơ sở thông tin có thể tổ chức lại dòng công việc sao cho tiết kiệm và
hiệu quả, đấy thực sự là quá trình tối ưu hoá, điều khiển bệnh viện theo phương
pháp công nghiệp. Cũng nhờ những mạng như vậy, người phụ trách có thể kiểm soát
được tình hình ở tất cả các địa bàn, từ đó ra những quyết định kịp thời và chính
xác. Với các dịch bệnh người ta đã phát triển những phương pháp riêng để làm
công tác dự báo, kiểm soát và phòng chống có hiệu quả.
Với từng người
bệnh, có thể sử dụng mạng y học từ xa để xin ý kiến tư vấn của các bác sĩ hay
các chuyên gia đầu ngành. Các bệnh nhân cần theo dõi đặc biệt có thể dùng một
máy tính xách tay (Laptop) để đảm bảo mối liên hệ thường xuyên với bệnh viện.
Cơ cấu dịch vụ y
tế bây giờ cũng không chỉ là các bệnh viện hay các phòng khám riêng biệt, mà là
một mạng liên kết theo kiểu liên kết toàn diện, liên kết theo chuyên ngành hay
liên kết theo khu vực, có thể chống hiện tượng quá tải và tạo thuận lợi tối đa
cho người bệnh ở mọi khu vực.
Trên thực tế, y
học từ xa đã mở ra những chân trời mới, cũng như Internet đã thực sự làm thay
đổi thế giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Enrico Coiera.
Guide to Medical Informatics; the Internet and Telemedicine.
Chapman & Hall
Medical. 1997.
2. Jutra, A.
Teleroentgen diagnosis by means of videotape recording AJR, 82: 1099- 1102,
1959.
3. Chương 7:
Health Care Industry Network. Trong: Multimedia Networking. Tài liệu photocopy.
4. New
Technologies in Hospital Information Systems. Editors: J. Dudeck. B. Blobel, W.
Lordiek, T. Buerke. IOS Press - OHM - Ohmsha.
5. Van Bemmel J.
H., Musen M.A. Handbook of Medical Informatics.Houten/Diegen 1997 – Springer.
Biên tập: TS.
Nguyễn Hữu Đức
sumary
Telemedicine-
Fundamentals and Initial Works
The paper briefly
and systematically represents basic concept of Telemedicine and points out
indispensable steps of its application in the health sector. Some beginning
achievements of the Central Military Hospital 108 - Ministry of Defense in
development of Telemedicine are also touched up by the authors.