Sau nhiều năm nữa ngành công nghệ thông tin trong ykhoa sẽ như thế nào?
¤ Q: dự đóan tương lai phát triển của ngàng công nghệ thông tin trong y khoa
¤ A: Bạn Nam Phuong thân mến.
Chúng tôi xin cung cấp một số thông tin trả lời câu hỏi của bạn như sau:
Trong thời đại ngày nay chúng ta dường như cảm thấy bất lực trước nhu cầu
phát triển khoa học và xã hội nếu thiếu công nghệ thông tin. Đôi khi đâu đó,
chúng ta cảm thấy cuộc sống, công việc ngừng trệ khi thiếu công nghệ thông tin
như: sẽ không lấy được tiền nếu hệ thống tin học Ngân hàng bị sự cố, người bác
sĩ khó có thể chẩn đoán và điều trị tốt cho người bệnh, nếu các thiết bị tin học
trong hệ thống thiết bị y tế bị trục trặc, và xa hơn là sự đóng góp của công
nghệ thông tin trong việc chiến thắng bệnh tật và đói nghèo... Công nghệ thông
tin thực sự là "hơi thở" của con người trong xã hội phát triển thời đại kinh tế
tri thức.
Khó có thể kể hết những tiến bộ của công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh
vực. Từ kinh tế, khoa học, xã hội, cũng như trong lĩnh vực y tế... Cũng không có
cuộc cách mạng kỹ thuật nào có tốc độ phát triển nhanh như cách mạng công nghệ
thông tin. Không có thời đại nào những người làm giầu nhanh và nhiều nhất thế
giới tập trung ở công nghệ thông tin như ngày nay - đứng đầu là Bill Gate -
người được mệnh danh là "Ông vua" tin học của thế kỷ 20.
Đất nước Việt Nam chúng ta đang đứng trước những vận hội và thách thức của
kinh tế tri thức, trong đó công nghệ thông tin là nòng cốt. Tư chất của người
Việt Nam là thông minh, kiên trì, có tư duy tốt, vốn là những phẩm chất quí báu
cho con người thời đại thông tin. Sự nghiệp ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin trong ngành y tế là vận hội nhưng cũng là thách thức.
I. Tình hình phát triển công nghệ thông tin y tế trên th giới và ở Vit
Nam:
Việc ứng dụng của công nghệ thông tin trong việc phục vụ chǎm sóc sức khỏe là
khuynh hướng toàn cầu trong thế kỷ 21. Nhờ có sự phát triển nhanh chóng của công
nghệ thông tin, tin học y tế đã đạt được nhiều thành quả như việc ứng dụng các
hệ thông tin bệnh viện, các hệ trợ giúp làm quyết định lâm sàng, y học từ xa
(telemedicine), thực tế ảo và xa lộ thông tin sức khỏe... do đó việc chǎm sóc
sức khỏe cộng đồng ngày càng được tốt hơn.
ở nhiều nước trên thế giới, chính phủ đã xây dựng chương trình quốc gia về
công nghệ thông tin y tế nhằm tin học hóa ngành y tế. Nhiều chương trình nghiên
cứu và ứng dụng được triển khai tại các bệnh viện và các cơ sở y tế, như việc
xây dựng các hệ thông tin bệnh viện bao gồm các hệ truyền tin, mệnh lệnh, hệ
thông tin chǎm sóc cho y tá, bệnh án, dược khoa, tia X, trợ giúp làm quyết định
(giúp tạo đơn thuốc, lựa chọn thuốc kháng sinh, theo dõi liều thuốc, cảnh báo
lâm sàng, dị ứng, chế độ ǎn uống...) phục vụ lâm sàng.
Còn trong quản lý hành chính, đã triển khai hệ quản lý hành chính bệnh nhân,
quản lý nhân sự, tài sản, ngân sách bệnh viện, phân tích nguồn thu và chi của
bệnh viện, kiểm tra việc sử dụng thiết bị y tế, truy cập sách thư viện bệnh viện
cũng như tạo trang web bệnh viện trên mạng.
Ngoài ra, còn xây dựng các hệ truyền tin lưu trữ ảnh PACS và y học từ xa giữa
các bệnh viện, xây dựng các trạm chǎm sóc dùng truyền thông không dây cho các
bác sĩ và những người phục vụ y tế.
Đối với nhiều quốc gia, việc đào tạo là quốc sách, do đó việc nghiên cứu xây
dựng các hệ dạy học y học thông minh là cần thiết, giúp cho việc đào tạo/học và
tự học từ xa nhằm nâng cao trình độ cho các bác sĩ và những người làm công tác y
tế ở khắp mọi miền đất nước. ở Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia phát triển,
chính phủ chú trọng xây dựng mạng chǎm sóc sức khỏe ở nhà phục vụ cho việc chǎm
sóc sức khỏe ban đầu và chǎm sóc sức khỏe người có tuổi.
Trong nhng nǎm qua, dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo công nghệ thông tin Bộ Y
tế, ngành y tế bước đầu đã xây dựng các mạng diện rộng, mạng toàn quốc và mạng
khu vực theo hệ thống chuyên ngành cùng các mạng nội bộ của các cơ sở y tế như
bệnh viện, trường học... Một số bệnh viện, đơn vị trong ngành y tế đã mua, sử
dụng và đã xây dựng các phần mềm chuyên dụng phục vụ cho công tác của mình.
Ngoài ra, Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu điện và Viện Công nghệ Bưu chính viễn thông
đã nghiên cứu triển khai thử nghiệm mạng y tế từ xa. Một số viện nghiên cứu như
Viện Công nghệ Thông tin, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia và
một số cơ sở nghiên cứu tại các trường đại học ở Việt Nam cũng đã triển khai các
đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực tin học y tế như các hệ thông tin bệnh viện,
các hệ thông minh y học, chẩn đoán hàn-nhiệt, kết hợp y học hiện đại với y học
cổ truyền dân tộc... Một số kết quả nghiên cứu và triển khai ứng dụng đã được
báo cáo tại các hội nghị tin học y tế quốc tế ở Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Công,
Việt Nam...
Tuy nhiên, việc nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo tin học y tế trong những nǎm
qua vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng tǎng của công nghệ thông
tin y tế ở Việt Nam do chưa có một Trung tâm/viện nghiên cứu chuyên ngành tin
học y tế có đủ nǎng lực chuyên môn giúp Bộ Y tế, Ban chỉ đạo công nghệ thông tin
tập hợp các đội ngũ tin học y tế ở các cơ sở y tế trong cả nước, đẩy mạnh việc
nghiên cứu, triển khai ứng dụng và đạo tạo tin học y tế cho toàn ngành y tế góp
phần cho việc chǎm sóc sức khỏe nhân dân ngày một tốt hơn.
II. Một số lĩnh vực phát triển công nghệ thông tin Y tế ở Việt nam
Để phát triển tin học trong y tế ở Việt Nam cũng như để hòa nhập với quốc tế
chúng ta cần từng bước phát triển các hệ thông tin y tế theo thứ tự ưu tiên sau:
1. Các hệ thông tin bệnh viện - là hạ tầng cơ sở để chia sẻ thông tin sức
khỏe quốc gia tương lai và hòa mạng.
2. Các hệ thông tin sức khỏe công cộng - dùng cho y tế dự phòng và báo cáo dữ
liệu dịch tễ.
3. Các hệ thông tin lâm sàng - trợ giúp bác sĩ trong chẩn đoán và điều trị.
4. Các hệ thông tin y học cổ truyền dân tộc - lưu trữ các thông tin về cây
thuốc, bài thuốc.
5. Các hệ thông tin rǎng hàm mặt - trợ giúp việc quản lý dữ liệu, thông tin
bệnh nhân rǎng hàm mặt.
6. Các hệ thông tin dược học - dùng cho việc viết đơn và phân phối thuốc.
7. Các hệ thống kê sức khỏe và sinh học - thu thập, lưu trữ các số liệu thống
kê về hoạt động sức khỏe và sinh học.
8. Mạng thông tin sức khỏe quốc gia- truyền các thông tin sức khỏe ngành y
tế.
9. Mạng quản lý ảnh và sức khỏe từ xa - lưu trữ ảnh y học và dùng cho việc
chẩn đoán, phân tích ảnh bằng máy tính.
10. Cùng với việc triển khai các công việc trên, phải tiến hành đồng thời
việc nghiên cứu cần thiết và đào tạo cán bộ công nghệ thông tin ở các cơ sở nhằm
đảm bảo việc triển khai có kết quả các ứng dụng công nghệ thông tin.
Việc lưu trữ điện tử là cốt lõi của việc toàn cầu hóa y tế trong thế kỷ 21.
Ngoài ra, những vấn đề kèm theo là việc tiêu chuẩn hóa tin học y tế quốc tế,
từ vựng thuật ngữ y học (ví dụ: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận trong y học cổ truyền
phương Đông được hiểu thế nào theo y học hiện đại), an toàn dữ liệu, điện tử,
viễn thông, thư tín, thu các tín hiệu sinh học...
Việt Nam là một nước đang phát triển, do đó phát triển tin học y tế hiện nay
tập trung vào vấn đề bệnh tật và sức khỏe trong chǎm sóc sức khỏe ban đầu. Đó là
việc lưu trữ bệnh án bệnh nhân chǎm sóc ban đầu, đǎng ký bệnh, phát triển nghiệp
vụ và trợ giúp quyết định chǎm sóc ban đầu, đồng thời xây dựng y tế từ xa nhằm
giúp đỡ việc chǎm sóc sức khỏe cho đồng bào các vùng sâu, vùng xa.
Trên dây là một số thông tin về vấn đề phát triển CNTT trong y khoa hiện nay
để bạn tham khảo. Ngòai ra, bạn có thể truy cập vào Website y khoa Việt Nam theo
địa chỉ WWW.ykhoa.net hoặc WWW.ykhoanet.com và từ Website này bạn có thể liên
kết đến nhiều địa chỉ website khác liên quan đến lĩnh vực y khoa để thu thập,
tra cứu những thông tin cần thiết.
Chúc bạn khỏe và thành công.
http://www.dost-dongnai.gov.vn/e9tvtraloi.asp?idd=20040224-185835
|