Tin học hóa
bệnh viện ở VN
- vạn sự khởi đầu nan
 |
| Triển lãm ứng dụng CNTT
trong y học tại Học viện Quân y. |
Mục tiêu của Việt Nam là đến năm
2005, hơn 800 bệnh
viện trên toàn quốc sẽ được triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong
quản lý, nối mạng với Bộ Y tế. Dù không dễ thực hiện và đã có những thất bại,
nhiều đơn vị vẫn kiên trì đưa tin học vào chuyên môn để có được nhiều tiện ích
trong công việc.
Chị Thủy, quản trị mạng
của Bệnh viện
Bưu điện, nhận định: "Có công nghệ giúp sức, chúng tôi không phải mất nhiều thời
gian để thống kê sổ sách giấy tờ nữa. Máy tính đã giúp giảm thiểu việc viết lách
và quản lý chặt chẽ hồ sơ, tài liệu. Người bệnh đến đây cũng yên tâm và đỡ vất
vả hơn vì việc làm thủ tục không còn lâu và rắc rối như trước".
Theo tiến sĩ Nguyễn Viết
Lượng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Viện Bỏng Quốc gia, tin học đã giúp các
bác sĩ thuận
tiện hơn trong khám, chữa bệnh, nhất là kê đơn thuốc. Mọi dữ liệu về thuốc (loại
gì, dành cho bệnh nào, số lượng hiện có tại
bệnh viện...)
đều lưu trong máy tính nên tránh được tình trạng kê đơn không an toàn, bất hợp
lý... Bên cạnh đó, việc quản lý về tài chính cũng chặt chẽ hơn, tránh
tình trạng thất thu hoặc không thể kiểm soát. "Viện Bỏng mang đặc thù là có
nhiều chế độ miễn giảm. Trước đây chúng tôi quản lý chi tiêu cho vấn đề này rất
khó, giờ thì đã khác", ông nói.
Tuy nhiên, theo ông
Lượng, cái được lớn nhất không phải là vấn đề tài chính mà là tác phong làm việc
của cán bộ và nhân viên trong viện đã thay đổi nhờ được nâng cao về trình độ tin
học và tiếng Anh. Ông tâm sự: "Chúng tôi đã phải cố gắng rất nhiều vì ban đầu,
hầu hết mọi người đều ngại, thậm chí còn phản đối quyết liệt vì ngoài chuyên
môn, họ không muốn mất thời gian cho việc khác, dù sự thay đổi có mang lại nhiều
tiện ích". Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến việc áp dụng CNTT
vào các bệnh viện
gặp trở ngại, thậm chí không thành công. Nắm được vấn đề này, trước khi đầu tư
cho hệ thống, Viện Bỏng đã chủ trương dành hẳn 1 năm đầu để đào tạo cho nhân
viên kiến thức về mạng.
Một nguyên nhân khác
khiến một số bệnh
viện không thành công trong việc xây dựng hệ thống quản lý điện tử là chương
trình họ sử dụng không thích hợp. Nhiều công ty được thuê để viết phần mềm cho
ngành y tế, nhưng không hiểu chuyên môn hoặc thu thập thông tin đầu vào thiếu,
nên khi đưa vào ứng dụng không đạt hiệu quả. Nhiều trường hợp còn đem chương
trình của mô hình khác, thay đổi chút ít, rồi cứ thế đưa vào áp dụng cho ngành y
tế. Hậu quả là thay vì phát huy ưu điểm, những sản phẩm kiểu này thậm chí còn
làm đảo lộn hoạt động của đơn vị.
Sau nhiều khảo sát, Viện
Bỏng đã rút ra kinh nghiệm "phải là chuyên gia trong lĩnh vực của chính mình"
nên đã không "giao khoán" cho đơn vị làm phần mềm. Họ tự thiết kế ý tưởng, sau
đó cùng các chuyên gia tính toán đến từng chi tiết nhỏ nhất. Hiện tại, viện cũng
tự làm công việc quản trị mạng và chỉ ký hợp đồng với một công ty bảo trì định
kỳ phần cứng.
Chị Thủy cho biết, với 2
máy chủ và khoảng 40 máy trạm cho 7 phân hệ làm việc (đón tiếp, khám bệnh, cận
lâm sàng, điều trị, quản lý thuốc và vật tư, thanh toán, admin), hệ thống của
bệnh viện Bưu
điện hiện chạy tương đối ổn định. Thời gian đầu cũng có nhiều lỗi, chủ yếu là do
người sử dụng chưa quen gây ra. Tại Viện Bỏng, 6 tháng đầu khi mới vận hành cũng
gặp một số trục trặc nhỏ. Chẳng hạn như việc số lượng thuốc trong kho được kiểm
soát trên máy tính, mỗi lần
bác sĩ gõ một
lệnh xuất thuốc theo đơn, máy sẽ tự trừ đi. Nhưng do chưa quen,
bác sĩ lại ra
nhiều lệnh cho một đơn, kết quả là máy tính báo hết trong khi số thuốc thực tại
kho vẫn còn. Lỗi này được các chuyên gia của AIT, công ty chịu trách nhiệm làm
phần mềm, khắc phục bằng một hệ thống kiểm soát tự động định kỳ và cài chương
trình cảnh báo để
bác sĩ chỉ được phép cho đơn thuốc một lần.
|