|

BS Trần Tấn Trâm
(Giám đốc Bệnh Viện Nhi Đồng 1)
|
Mạng máy
tính toàn bệnh viện (BV) là 'ước mơ' của mỗi nhà quản lý, nhưng cho đến giờ
'hiện thực' chưa được bao nhiêu, ngay cả hiệu quả công nghệ .Đó là chưa nói
đến tình trạng... 'tiền mất,tật mang',do lãnh đạo BV không cảnh giác với...
hiện tượng 'Demo'.
Những mâu thuẫn nào đang 'Ám' chúng ta?
Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông vào bệnh viện
(BV) là tạo điều kiện phát triển BV.
Tuy vậy, khi CNTT và truyền
thông đã cải thiện rõ ràng dịch vụ y tế tại các nước phát triển thì ở các
nước đang phát triển lại có hiệu quả không chắc chắn, không rõ ràng.
Điều đó xuất phát từ 5
mâu thuẫn hiện nay trong BV:
- Mâu thuẫn giữa sự phát triển chậm chạp ngành quản lý với sự phát
triển nhanh chóng cơ sở săn sóc.
- Mâu thuẫn giữa năng lực hạn
chế trong sử dụng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ Y.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao
trong săn sóc với chất lượng ào tạo hạn chế, dễ gây lãng phí.
- Mâu thuẫn giữa quản lý nhà
nước rất hạn chế với sự phát triển nhanh chóng các biến tướng tiêu cực của
cơ chế thị trường.
- Mâu thuẫn giữa bùng nổ CNTT
trên thế giới với sự phát triển chậm chạp CNTT trong BV Việt Nam.
Ở nước đang phát triển, khoảng
cách số thể hiện rất rõ trong ngành Y Tế: tập trung đầu tư vào CNTT và
truyền thông, cán cân tài nguyên sẽ bị đảo lộn, tạo ra mâu thuẫn. Đó là phải
phát triển CNTT và truyền thông rất tốn kém, trong khi tài chính BV rất hạn
hẹp, thiếu cả trang thiết bị thiết yếu căn bản phục vụ bệnh nhân.
Trong tình hình hiện nay ở Việt
Nam, tiếp cận vào mạng máy tính trong BV là rất phức tạp, hỗn độn và tốn
kém, thậm chí còn nhiều ý kiến trái ngược nhau về mục tiêu và tổ chức. Mạng
máy tính toàn BV là 'ước mơ' của mỗi nhà quản lý, nhưng cho đến giờ 'hiện
thực' chưa được bao nhiêu, ngay cả hiệu quả công nghệ. Đây là thực tế cần
suy nghĩ, buộc lãnh đạo BV phải điều nghiên thật khách quan khi ra quyết
định thiết lập mạng. Bởi đầu tư rất tốn kém vào phần cứng và phần mềm chưa
đồng nghĩa là đã có mạng máy tính hoạt động đúng mức và liên tục đáp ứng
được mục tiêu...
'Tiền mất, tật mạng'
cũng lắm khi...
|

Cơ sở dữ liệu mã bệnh nhân giúp tìm lại hồ sơ bệnh án lúc cần
thiết, hay lúc tái nhập viện. Ảnh chp tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1 |
Bạn đi khám bệnh, có khi bác sĩ
cho toa rất nặng nhưng chỉ đáp ứng một phần yêu cầu bệnh của bạn, còn lại
chủ yếu là cho đơn thuốc theo gợi ý của... trình dược viên. Khi đó, bạn sẽ
nghĩ gì?
Có thể nói, tình trạng tương tự
như vậy hiện vẫn xảy ra khi BV muốn có một mạng máy tính để tin học hoá việc
quản lý BV, song lập trình viên lại cho 'toa' theo khả năng cung cấp phần
cứng, phần mềm của họ mà không sát yêu cầu của BV. Khi đó, dĩ nhiên sẽ xảy
ra tình trạng... 'Tiền mất, tật mang'!
Đặc biệt, cần cảnh giác với hiện
tượng 'Demo' và tác động của 'Demo'.
'Demo' là hiện tượng 'trình
diễn', hoặc 'khoe khoang' công nghệ mới, cầu kỳ nhưng không thích hợp, và
cũng chưa cần thiết cho mục tiêu thích ứng với hoàn cảnh kinh tế, con người
thực hiện, trình độ nhận thức...
Một số thí dụ về 'Demo': Y Học
Từ Xa (Telemedicine) có khi 'không kinh tế', vì mỗi năm chỉ thực hiện vài
lần nhưng quá tốn kém. Quản lý nhân sự bằng hình ảnh; đưa chẩn đoán hình ảnh
vào mạng; hoặc đưa ra các mục tiêu phụ rườm rà của mạng máy tính BV, đưa ra
các quy mô phức tạp, cầu kỳ và đặc biệt chưa cần thiết trong các 'form' quản
lý hồ sơ bệnh án; nhiều chi tiết quản lý không cần thiết; nhiều thiết bị đắt
tiền chưa thích hợp...
Tác động tiêu cực của hiện tượng
'Demo' đã và đang xảy ra rất phổ biến hiện nay, gây lãng phí không lường
được và gây ảnh hưởng đến các hoạt động khác của BV.
Phải nói rằng tôi đã đi khắp các
BV miền Nam và có quá nhiều kinh nghiệm về hiệu quả xây dựng và phát triển
mạng máy tính BV. Tại một BV tỉnh nọ, một nhân viên BV có đề nghị BV Nhi
Đồng tặng một máy hút đàm nhỏ (giá chỉ vài triệu đồng/máy) cho Phòng Cấp
Cứu, trong khi BV họ đã chi hàng trăm triệu đồng để mua máy tính lập mạng
BV. Một BV khác, mới thành lập, thiếu trầm trọng các trang bị cần thiết căn
bản nhưng lại rất đầy đủ các thiết bị CNTT hiện đại...
Rút được gì từ những 'ca'
thực tế này?
Phải cân đối hạ tầng
và thượng tầng trang thiết bị để cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Phải tỉnh táo nghiên cứu giá cả/hiệu quả để đi vào thực chất, hướng về mục
tiêu thiết thực, bức xúc nhất hiện nay.
Mục tiêu nào cho mạng BV?
Tổ chức mạng máy tính toàn BV là hoạt động hạ tầng tối cần thiết để thu thập
và quản lý các dữ liệu về bệnh nhân, tài vụ, trang thiết bị, thuốc... nhằm
cải thiện hoạt động quản lý, nâng cao chất lượng săn sóc và nâng cao trình
độ tri thức của bác sĩ, nhân viên... Cái cấu trúc hạ tầng quan trọng ấy đều
được mọi người ước mơ, nhưng tình hình hiện thực thì thế nào?
BV Nhi Đồng I đã có một ít kinh
nghiệm xây dựng mạng máy tính từ 8 năm qua. Chúng tôi đã phải 2 lần đổi
(nâng cấp) máy tính, còn máy chủ cứ phải đổi đi đổi lại hoài, chưa kể mạng
đã bị 'Trời' (sét) đánh đôi ba lần... Để hết sức thận trọng ra quyết định
thực hiện và dấn thân khi giải bài toán mạng máy tính toàn BV, trên cơ sở
thực tế của BV Nhi Đồng I, chúng tôi muốn lưu ý các đồng nghiệp trước hết về
vấn đề xác lập mục tiêu của mạng.
Mục tiêu của mạng rất đa dạng,
song cần nhìn rõ 2 nhóm mục tiêu: mục tiêu chính và mục tiêu phụ đi kèm theo
mạng.
Mục
tiêu chính hiện nay gồm những gì?
- Quản lý hồ sơ bệnh án? Mạng chỉ nên quản lý hồ sơ bệnh án, mỗi bệnh nhân
có mã số riêng khi nhập viện để sau đó dễ tìm lại lúc cần thiết, hay lúc tái
nhập viện. Đây là mục tiêu tương đối đơn giản.
- Thay thế hồ sơ bệnh án? BV
không có khả năng đưa toàn bộ chi tiết hồ sơ bệnh án vào mạng. Đây là công
việc cực kỳ khó khăn và nặng nhọc, đòi hỏi phải quản lý thật nghiêm túc và
chính xác.
- Thực hiện 'bệnh án điện tử'?
Dù là hướng tất yếu phải thực hiện, song đó là trong tương lai xa.
- Quản lý tài chính? Đây là mục
tiêu hợp lý nhất trong giai đoạn hiện nay, nhưng ta theo hướng toàn diện hay
từng phần? Chỉ quản lý viện phí (từ ngoại chẩn đến các khoa bệnh), hay quản
lý gộp chung viện phí và toàn bộ tài chính của BV tại phòng tài vụ? Thực tế
cho thấy quản lý toàn bộ tài chính là hợp lý và bắt buộc.
- Quản lý tài chính kết hợp với
quản lý hồ sơ bệnh án? BV Nhi Đồng I đã và đang thực hiện theo hướng này,
với nhiều kết quả khích lệ. Có lẽ đây là hướng hợp lý, khả thi và hữu ích
trong giai đoạn hiện nay. Tuy vậy, trước mắt phải đi từng bước từ đơn giản
đến phức tạp ở cả hoạt động quản lý tài vụ và quản lý hồ sơ bệnh án.
Mục tiêu phụ của mạng là
những gì?
- Cập nhật diễn
biến dữ liệu bệnh nhân: Cần cập nhật 24/24 giờ (Vào viện lúc nào? Nhập khoa
nào? Tình hình bệnh tật ra sao?...), và cập nhật đầu vào tại ngoại chẩn, lúc
nhập khoa, lúc chuyển khoa, lúc chuyển viện hay xuất viện? Tuỳ hoàn cảnh
thực tế nhân lực, nên chọn quyết định cập nhật trong thời gian ban đầu, hay
sau thời gian thử thách mạng. Việc cập nhật 24/24 giờ đòi hỏi nhiều nhân
viên và thêm công việc.
- Thông tin tình hình bệnh nhân tại Phòng Tiếp đón: Thông tin cho thân nhân
về tình hình chăm sóc tại phòng tiếp đón khu ngoại chẩn. Đây là mục tiêu
mang tính nhân văn và văn minh.
- Kết hợp mạng nhỏ 'Quản lý tài
chính tại phòng' (nên có mạng nhỏ kết hợp với mạng toàn BV, vì 2 phần quan
trọng là quản lý thật tốt việc thu viện phí tại mạng toàn BV, kết hợp với
mạng nhỏ quản lý 'quỹ' BV). Ngoài ra, BV có phần mềm quản lý phân bổ và sử
dụng kinh phí của ban giám đốc theo hướng 'trần' trong quản lý tài chính để
điều hoà tài chính, tránh mất cân bằng cán cân thu chi...
- Kết hợp quản lý vật tư -
trang thiết bị (mạng nhỏ).
- Kết hợp quản lý thuốc (mạng
nhỏ).
- Kết hợp quản lý hành chính
quản trị (mạng nhỏ quản lý sửa chữa, xây dựng, kho tàng, chi phí, giá cả...,
nối với mạng toàn BV để quản lý hoạt động chính quản trị, nhất là vật tư và
kho tàng).
- Kết hợp quản lý nhân lực
(mạng nhỏ này không cần kết nối với mạng chính).
- Kết hợp quản lý xét nghiệm
hay chẩn đoán hình ảnh? Theo tôi, mang tay kết quả xét nghiệm cũng như chẩn
đoán hình ảnh cho các khoa là thích hợp nhất vì đưa vào mạng là rất tốn kém
và không khéo sẽ chỉ mang... tính 'demo'.
- Quản lý công tác tuyến trước
(mạng nhỏ cho các hoạt động của phòng chỉ đạo tuyến cần được thiết lập, song
không nhất thiết phải nối với mạng toàn BV. Các công trình nghiên cứu khoa
học sẽ được thực hiện tại các khoa, với phn mềm riêng biệt).
- Công tác nghiên cứu khoa
học: Vì mục tiêu của mạng là không thay thế hồ sơ bệnh án nên việc nghiên
cứu khoa học không bị ảnh hưởng nhiều. Mạng toàn BV chỉ điểm số lượng hồ sơ
bệnh án cần thiết trong nghiên cứu.
- Nâng cao kiến thức nhân viên
- kho tàng trí tuệ Y Học: Các kiến thức tiềm ẩn (Tacit Knowledge) sẽ được
lưu giữ trong mạng để tiện sử dụng khi cần. Tại BV Nhi Đồng I, các bác sĩ và
nhân viên được truy cập internet tại các khoa vào buổi chiều để khai thác
thông tin bên ngoài và thế giới.
- Thông tin ngoài BV: Thông tin
liên lạc với tuyến trước và Y Học Từ Xa không cần sử dụng mạng lớn, mà chỉ
cần dùng email hay máy tính cá nhân.
- Cập nhật liên tục thông tin là
hoạt động thiết yếu để phát triển và phong phú hoá hoạt động của mạng. Ban
giám đốc, các phòng kế cận, các trưởng khoa phải tích cực và thường xuyên
đòi hỏi yêu cầu theo thực tế hàng ngày để phóng máy tính trung tâm nghiên
cứu đáp ứng. Ngoài ra, còn nhiều yêu cầu khác từ Sở Y Tế, Bộ Y Tế... phải
cập nhật và phải có phần mềm mới để đáp ứng.
Thực tế cho thấy rất nhiều BV đã
đầu tư nhiều tiền vào mạng nhưng gặt hái chẳng được bao nhiêu. Từ kinh
nghiệm tại BV Nhi Đồng I chúng tôi cho rằng ở giai đoạn bắt đầu (xem là Giai
đoạn 1), nên lập mạng nhỏ của các phòng và nối kết lại. Đó là mạng nhỏ của
các phòng tài vụ, hành chánh quản trị, vật tư - trang thiết bị, kế hoạch -
tổng hợp; cùng mạng nhỏ quản lý thuốc.
Đây là mô hình mạng đơn giản
nhất, khả thi nhất, ít tốn kém nhưng vẫn có th đạt đưc mục tiêu đề ra
(quản lý tài vụ và bệnh nhân), đồng thời vẫn có tiềm năng phát triển.
Giai đoạn 2:
Mạng đơn giản toàn BV (như tại BV Nhi Đồng I hiện nay). Mạng này rộng khắp
các khoa bệnh, có thể có xét nghiệm (không chẩn đoán hình ảnh), và kết hợp
với các mạng nhỏ của các phòng. Mục tiêu chính vẫn là quản lý tài chính và
quản lý hồ sơ bệnh án. Mạng này có thể phát triển thêm các cơ sở dữ liệu cần
thiết, cũng như tồn trữ kiến thức tiềm ẩn. Ngoài ra, có thể nối với internet
để truy cập kiến thức Y Học Chứng Cớ.
Giai đoạn 3:
Mạng phức tạp (hay mạng hoàn chỉnh), không còn gồm mạng nhỏ hay lớn, quản lý
toàn bộ các hoạt động (viện phí từng khoa, thuốc, vật tư...)
Giai đoạn 4:
Tiến đến mạng quản lý hồ sơ bệnh án điện tử. Mạng này gồm toàn bộ các hoạt
động của BV và nhất là của bệnh nhân, đặc biệt lưu trữ các kiến thức khoa
học cần thiết như Y Học Chứng Cớ, kiến thức tiềm ẩn và trang bị cả các
phương tiện thực hiện Y Học Từ Xa. Đây là đỉnh cao nhất của mạng BV, chỉ mới
thấy ở một vài nước phát triển thật cao.
Nhìn khái quát, quy mô của mạng
tuỳ thuộc vào thực tế tài lực (rất tốn kém về phần cứng, phần mềm), thực tế
nhân lực (có khả năng thực hiện, quản lý và khai thác), và yêu cầu thực tế
(Yêu cầu nào cần thiết nhất trong giai đọan hiện nay.