Phỏng vấn bác sĩ Lê Trường Giang, phó giám đốc Sở Y
Tế TP.HCM về việc ứng dụng CNTT trong quản lý ngành Y Tế
|

Bác sĩ Lê Trường Giang:'Mã bệnh
nhân là điều kiện tiên quyết của sự thành công trong quản lý
CSDL Y Tế' |
Bác
Sĩ nghĩ gì về xu hướng đơn giản hoá nhiệm vụ Tin Học Hoá ngành Y Tế vào mỗi
việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước theo Quyết Định 112/2001/QĐ-TTg?
- Bác sĩ Lê Trường Giang: Tất nhiên, việc quản lý các trang thiết
bị, tài chính, con người... trong ngành là việc phải thực hiện chặt chẽ và
ngành Y Tế cũng phải tiến hành tin học hoá quản lý hành chánh theo Quyết
Định 112 của Thủ Tướng Chính Phủ. Đặc biệt, xu hướng tiến đến một nền hành
chính điện tử từ Văn Phòng Chính Phủ cho đến các Bộ, ngành, cơ sở là tất yếu
và phải đặc biệt quan tâm. Tuy vậy, cần nhìn rõ là cũng phải đưa các ứng
dụng CNTT vào những hoạt động đặc thù của ngành Y Tế mà nếu ngành không làm
thì sẽ không ai có thể làm thay.
Cùng làm
theo sự phát triển chung của CNTT trong xã hội để đóng góp vào đó và đồng
thời tận dụng những phát triển cho việc thành quả CNTT Y Tế, đó là một mặt.
Nhưng mặt khác và trước hết, tôi đang nghĩ tới một chuyện: cơ sở dữ liệu
(CSDL) mà ngành Y Tế cần quản lý là gì? Chúng tôi cần những loại dữ liệu
nào, và làm sao có các dữ liệu đó một cách đúng đắn, đầy đủ, tin cậy, chuẩn
xác? Vai trò của CNTT trong quản lý ngành Y Tế được đặt ra: làm gì để thu
thập, xử lý và tổ chức khai thác những dữ liệu ấy đã là một bài toán lớn.
Theo Bác Sĩ, CSDL Y Tế cụ thể là
những gì?
- Nếu có thể nói ngay, thì hầu
như ai cũng dễ nghĩ tới tất cả dữ liệu liên quan đến sức khoẻ con người nói
chung và từng người nói riêng mà ngành chúng tôi phải quản lý. Ở góc độ đó,
cần quản lý thông tin trong hoạt động khám, chữa bệnh ở tất cả cơ sở. Tuy
vậy, thật ra đó mới chỉ là một bộ phận trong CSDL Y Tế.
Hãy thử
xét trường hợp một em bé: nhìn ở góc độ vừa nêu, chúng ta sẽ chỉ có thông
tin về bé nếu bé bệnh và có đi khám, chữa bệnh. Tuy vậy, dữ liệu cần có thật
ra phải là tất cả thông tin về toàn bộ các tác động của ngành Y Tế lên bé:
đó phải là một hệ thống dữ liệu về chủng ngừa, về cân đo sức khoẻ hàng
tháng, về sự phát triển tâm sinh lý của bé một cách thường kỳ...
Vấn đề
CSDL Y Tế càng phức tạp thêm nếu ta nhìn rõ sức khoẻ con người vốn chịu ảnh
hưởng của môi trường xung quanh (địa lý, điều kiện và chất lượng của nước,
không khí, khí hậu...; kể cả của những tác động xã hội). Do đó, cần thu thập
và xử lý từ những dữ liệu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ của hệ thống y
tế (từ phường xã tới quận huyện và thành phố), cho tới những dữ liệu về môi
trường tự nhiên, xã hội có liên quan. Chỉ khi có được một CSDL như vậy,
chúng ta mới có cơ sở định ra chính sách và chiến lược chăm sóc sức khoẻ
toàn dân...
Tại Hội thảo khoa học 'Một số vấn đề về Tin Học Y Tế' lần thứ nhất, do Bộ Y
Tế tổ chức vào tháng 12/2001 Hà Nội, quan điểm chính thống của Bộ cho rằng
hơn 30 bệnh viện trong cả nước đã ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện song
còn mang 'tính tự phát, thiếu đồng bộ vì các phần mềm không thể ghép nối với
nhau, giá thành lại rất cao, gây lãng phí và tốn kém của Nhà Nước'.
Bác Sĩ
nghĩ sao về nhận xét ấy? Xét trên góc độ quản lý ở TP.HCM, giả sử nếu Sở Y
Tế không đưa ra được chuẩn cơ sở dữ liệu trong khi các bệnh viện lại chủ
động triển khai hệ thông tin quản lý bệnh viện riêng của từng nơi thì Sở có
đưa ra một... nhận xét tương tự?
- Nếu
tất cả cơ sở cứ ngồi chờ cấp trên thì có lẽ sẽ không bao giờ có được chuẩn
CSDL. Nhưng nếu cứ để mạnh ai nấy làm, bệnh viện nào cũng có hệ thống nhưng
không liên kết, ghép nối được với nhau thì đúng là lãng phí tốn kém. Tuy
vậy, nếu cấp trên cứ 'nghĩ đại' ra và ép bên dưới thực hiện mà không xuất
phát từ thực tiễn cuộc sống thì liệu chuẩn ấy có thích hợp với mọi đơn vị?
Cần sòng
phẳng chút xíu ở vấn đề này: Bộ nên xử lý hài hoà giữa tập trung và phân
tán, tức cấp Bộ nên định ra những gì là nền tảng nhất, để phân cấp quản lý
hệ thống CSDL của ngành - cấp Bộ quản lý những dữ liệu nào, cấp tỉnh thành
quản lý những dữ liệu nào, và từng đơn vị sẽ triển khai tổ chức hệ CSDL của
mình ra sao. Những gì là tập trung, mọi đơn vị buộc phải chấp hành. Song
những gì là phân tán thì nên thả cho cơ sở làm...
Xin lấy
một thí dụ về quản lý mã bệnh nhân, điều kiện tiên quyết quyết định sự thành
công của việc quản lý CSDL trong ngành Y Tế. Mã bệnh nhân đòi hỏi tính thống
nhất và cố định trong từng bệnh viện, và nếu thống nhất trong toàn thành phố
thì tốt cho thành phố, thống nhất trong cả nước thì tốt cho cả nước.
Đối với
mã bệnh nhân, có hai vấn đề được đặt ra. Trước hết, tuy thực hiện được mã
bệnh nhân thống nhất trong cả nước là rất hay, song chính trình độ dân trí
không đồng đều và cả do sự phát triển không đồng đều về CNTT trong cả nước
(không đồng bộ về phần cứng, tri thức và kỹ năng của đội ngũ chuyên viên
CNTT...) đang là những trở ngại rất lớn. Vì vậy, tôi nghĩ nên để các tỉnh,
thành nào có điều kiện thì cứ triển khai mã bệnh nhân theo quy tắc riêng
cũng không sao. Bởi sau này, nếu cần thống nhất thì việc lập chương trình
máy tính để chuyển đổi giữa hai quy tắc mã bệnh nhân nào đó là điều không
khó.
Ở đây,
vẫn là giá trị của... người đi trước. Kinh nghiệm quản lý mã bệnh nhân tại
TP.HCM từ năm 1998 đến nay cho phép chúng tôi biết trước những gì có khả
năng xảy ra để hạn chế những tổn thất. Thậm chí thoạt đầu khi triển khai
chương trình mã bệnh nhân ở TP.HCM, cũng đã có rất nhiều ý kiến khác nhau
nhưng Sở Y Tế vẫn quyết định: Không dám đi, chắc chắn sẽ không bao giờ tới
đích. Và tôi tin rằng TP.HCM làm được thì các tỉnh thành khác cũng làm được,
thậm chí với công nghệ cao hơn. Khi đó, TP.HCM có thể cống hiến cho các địa
phương về kinh nghiệm đi trước của mình.
Nhựt Minh