"Tôi thích
gọi An Khang là E.CLINIC - Phòng Khám Điện Tử vì mọi giao dịch tại đây
đều qua mạng, từ lưu trữ đến chỉ định, gửi kết quả, trả kết quả, liên hệ
BN và truy cập hồ sơ bệnh án."
"Việc minh bạch hoá bệnh án giúp
người bệnh có thể biết tường tận về tình trạng sức khoẻ của mình. Bệnh
án điện tử giúp y, bác sĩ chia sẻ và tự trau dồi kiến thức chuyên môn để
có những chẩn đoán chính xác nhất cho người bệnh".
Hệ thống chẩn đoán hình ảnh PACS
Hệ thống nhận dạng bệnh nhân
Bệnh nhân xem bệnh án trên mạng Internet
Hội chẩn từ xa qua mạng Internet
Kết nối tự động thiết bị y khoa điện tử
Bệnh án điện tử di động
HT MEDSOFT
CTY TNHH PHÁT TRIỂN ĐIỆN TOÁN Y KHOA
HT
MEDSOFT
Vietnam Medical Software Development Company
Co.,Ltd. - MEDSOFT-VIETNAM Co.,Ltd.
"Tôi thích
gọi An Khang là E.CLINIC - Phòng Khám Điện Tử vì mọi giao dịch tại đây
đều qua mạng, từ lưu trữ đến chỉ định, gửi kết quả, trả kết quả, liên hệ
BN và truy cập hồ sơ bệnh án."
"Việc minh bạch hoá bệnh án giúp
người bệnh có thể biết tường tận về tình trạng sức khoẻ của mình. Bệnh
án điện tử giúp y, bác sĩ chia sẻ và tự trau dồi kiến thức chuyên môn để
có những chẩn đoán chính xác nhất cho người bệnh".
Hệ thống chẩn đoán hình ảnh PACS
Hệ thống nhận dạng bệnh nhân
Bệnh nhân xem bệnh án trên mạng Internet
Hội chẩn từ xa qua mạng Internet
Kết nối tự động thiết bị y khoa điện tử
Bệnh án điện tử di động
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Y TẾ
Khi nói về CNTT Việt Nam thế
giới sẽ nghĩ về CNTT y khoa
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ XÉT NGHIỆM
I. ĐẠI CƯƠNG
Việc quản lý xét nghiệm là một yêu cầu bắt buộc phải có trên hệ thống thông tin bệnh viện hoàn chỉnh, và đây là một chức năng tương đối phức tạp vì liên hệ đến nhiều chức năng quản lý khác trong toàn bệnh viện như
Quản lý bệnh nhân
Quản lý bác sĩ điều trị
Quản lý dược
Quản lý vật tư tiêu hao
Quản 1ý viện phí
Ngược lại nếu quản lý xét nghiệm tốt sẽ có giúp quản lý tốt các chức năng sau đây:
- Chức năng quản lý viện phí
- Chức năng quản lý vật tư , hóa chất dùng cho xét nghiệm, phần này liên kết với chức năng quản lý kho dược hoặc kho vật tư để quản lý tránh thất thoát trong quá trình sử dụng vật tư hóa chất.
- Chức năng quản lý về chuyên môn phục vụ công tác điều trị và tiến đến phục vụ bệnh án điện tử và hội chẩn từ xa.
Tuy nhiên công việc quản lý xét nghiệm về góc độ phục vụ công tác điều trị sẽ rất vất vả vì lượng công việc nhập liệu là hết sức lớn ví 1 00 % bệnh nhân nội trú có làm xét nghiệm và 50% bệnh nhân phòng khám có làm xét nghiệm. Hàng ngày lượng bệnh nhân phòng khám thường gấp 3 lần số giường bệnh nội trú.
Mỗi bệnh nhân có thể có nhiều phiếu xét nghiệm và 1 phiếu xét nghiệm sẽ có nhiều xét nghiệm. Do đó chúng tôi thường thực hiện việc quản lý xét nghiệm ở giai đoạn sau cùng của hệ thống thông tin bệnh viện và phân chia việc đưa quản lý xét nghiện thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 : Quản lý tên xét nghiệm dùng cho từng bệnh nhân và chi phí đi kèm, đồng thời quản lý sử dụng vật tư hóa chất.
- Giai đoạn 2 : quản lý các kết quả xét nghiệm cho từng bệnh nhân và in phiếu kết quả trên máy hoặc đưa kết quả vào trang WEB quản lý bệnh nhân của bệnh viện để thiết lập bệnh án điện tử.
II. NHU CẦU CẦN CÓ ĐỂ THỰC HIỆN QUẢN LÝ XÉT NGHIỆM .
Để thực hiện dược quản lý xét nghiệm, bệnh viện cần có hệä thống quản lý bệnh nhân tốt tại tất cả các khâu:
- Tiếp đón
- Phòng khám
- Nội trú
- Ngoại trú
- Khám tuyến
- Vãng lai
Khâu quản lý viện phí cũng phải hoàn chỉnh trước để đảm bảo bệnh nhân tại phòng khám được thu viện phí xét nghiệm trước khi làm xét nghiệm hoặc đối với bệnh nhân nội trú số liệu phải được lưu trên hệ thống viện phí để có thể tổng hợp chi phí của bệnh nhân khi xuất viện.
Khâu quản lý xuất nhập vật tư hóa chất cũng phải sẵn sàng để chuyển vật tư hóa chất đón phòng xét nghiệm và theo dõi việc sử dụng của xét nghiệm
Tại các phòng khám và các khoa phòng nội trú cần xây dựng được hệ thống yêu cầu xét nghiệm (laboratory order system) để chuyển thông tin đến phòng xét nghiệm khi có yêu cầu của bác sĩ điều trị nhằm giảm bớt áp lực nhập liệu tại khoa xét nghiệm Nếu có điều kiện nên sử dụng hệ thống hàng đợi (Queue management system) với các bảng điện tại khoa xét nghiệm giúp bệnh nhân chờ đợi một cách trật tự.
III MÃ VẠCH TRONG XÉT NGHIỆM
Trong xét nghiệm thường dùng các vật liệu thủy tinh và trước dây thường dùng bút chì mở ghi tên khoa và số hồ sơ hoặc tên bệnh nhân trên ống nghiệm. Việc làm này đã tạo nên một số sai sót nguy hiểm cho tánh mạng bệnh nhân và đã từng xảy ra ở một vài bệnh viện.
Thí dụ : số hồ sơ 66009 nếu quay chiều ống nghiệm lại sẽ là 60099 hoặc lầm lẫn giữa tên Hương và Hường do nét bút chì bị mất vì thế việc sử dụng mã vạch là rất cần thiết trong xét nghiệm.
Việc triển khai mã vạch ở khâu nào tùy tình hình mỗi bệnh viện. Tốt nhất là tại khâu tiếp đón cung cấp ngay cho bệnh nhân các mã vạch sẽ dùng trong quá trình điều trị mã vạch này cũng nên được dán vào sổ hoặc thể khám bệnh của bệnh nhân.
(Picture 79.1)
IV. NHẬP LIỆU PHỤC VỤ XÉT NGHIỆM:
Vì khối lượng công việc nhập liệu tại khoa xét nghiệm là quá lớn nên các khâu trước cần nhập liệu hỗ trợ.
Tiếp đón: nhập phần hành chánh
Các khoa phòng nhập phần chuẩn đoán sơ bộ và tên bác sĩ yêu cầu xét nghiệm và các xét nghiệm sẽ phải thực hiện.
(Picture 80.1)
Form nhập liệu yêu cầu xét nghiệm
Viện phí cung cấp thông tin đối tượng, và cho biết đã thu tiền chưa.
(Picture 80.2)
Nếu các thông tin trên đã thực hiện đầy đủ thì khoa xét nghiệm chỉ cần nhập thông tin kết quả xét nghiệm mà thôi, công việc sẽ được giảm nhẹ rất nhiều.
Kết quả xét nghiệm
(Picture 81.1)
- Giải quyết vấn đề phần nhúng (embedded) trên các máy xét nghiệm
Các máy xét nghiệm hiện đại hiện nay có phần nhúng để đưa các kết quả xét nghiệm ra máy in hoặc cổng COM. Tuy nhiên các hệ thống máy khác nhau sẽ có các định dạng (format) ra cổng COM khác nhau do đó cần có đội ngũ thực hiện chuyển các thông tin này vào ứng dụng. Nếu đạt được việc này thì mới thực sự giảm nhẹ công việc cho khoa xét nghiệm và bệnh án điện tử mới khả thi.
Việc làm này đòi hỏi phải tốn kém trong việc thực hiện phần mềm.
V. KẾT LUẬN:
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý xét nghiệm đòi hỏi bệnh viện đã có hệ thống thông tin khá hoàn chỉnh.
Công việc này đòi hỏi có sự liên hoàn ở tất cả các khâu và nên thực hiện ở giai đoạn sau cùng của việc phát triển hệ thống quản lý thông tin bệnh viện.