KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TRONG VIỆC ỨNG DỤNG TIN HỌC VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TẠI BỆNH VIỆN TW HUẾ
I. LỊCH SỬ
BVTW Huế là một trong những bệnh viện sớm đưa tin học vào công tác quản lý thống kê. Năm 1989 bệnh viện đã thành công trong việc ứng dụng tin học vào lĩnh vực quản lý hồ sơ bệnh án ra vào viện, sau dó là lĩnh vực quản lý tài chính và nhân sự.
Trong giai đoạn đầu việc xây dựng phần mềm còn mang tính giản đơn, chạy độc lập trên mỗi máy con. Các lĩnh vực đều quản lý riêng rẽ chưa có sự kết nối phạm vi quản lý còn hạn hẹp.
Với những nổ lực đó, ngoài việc đạt được những kết quả nhất định ban đầu, bệnh viện đã sớm tạo một tiền đề cơ bản cho việc phát triển đến một quy mô rộng lớn như ngày hôm nay.
Với chặng đường trên 14 năm hình thành và phát triển, đến nay mạng máy tính của bệnh viện đã được xây dựng với một quy mô rộng lớn bao phú toàn BV ( > l2 hecta) và trọng dụng phần mềm quản lý tương đối hoàn chỉnh trên cả 3 lĩnh vực: Hồ sơ bệnh án, Tài chính kế toán và Dược chính, đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ bệnh nhân.
II. CÁC YÊU CẦU CẤP THIẾT
Với quy mô giường bệnh lên đến 1 500 giường (thực kê), công tác quản lý bệnh viện thường gặp không ít khó khăn trong việc tổ chức quản lý và điều hành chuyên môn:
1. Yêu cầu của công tác quản lý
Công tác thống kê báo cáo các số liệu về mặt khám chữa bệnh, tài chính, dược- vật tư, nhân lực trở thành nhu cầu cấp thiết. Đòi hỏi các số liệu phải mang tính cập nhật, chính xác và nhanh chóng.
2. Yêu cầu của công tác khám chữa bệnh (KCB)
Việc quản lý hồ sơ bệnh án, phục vụ cho công tác KCB, nghiên cứu khoa học (NCKH), báo cáo, lưu trữ là một trong những yêu cầu cơ bản trong điều hành. Việc tham khảo, trích lập số liệu cho công tác trên không thể thiếu vai trò của máy tính.
3. Yêu cầu của công tác quản lý tài chính: đặc biệt là công tác thu mt phần viện phí, là một nhiệm vụ đòi hỏi tính chính xác, công khai và tiện lợii cho bệnh nhân. Việc quản lý kinh phí, thu chi ngân sách yêu cầu phải đầy đủ, chặt chẽ và khoa học.
4. Yêu cầu của công tác Dược: Việc quản lý nguồn thuốc nhập vào cũng như phát ra cho mọi đối tượng bệnh nhân phải đảm bảo tính chính xác, tránh thất thoát, thuốc phải đến tận người bệnh, công khai thuốc điều trị hàng ngày. Ngoài ra việc lên dự trù, mua sắm thuốc men, vật tư đầy đủ, kịp thời, không để bệnh nhân mua thuốc ngoài là những yêu cầu rất cần thiết.
5. Đáp ứng nhu cầu phát triển của công nghệ thông tin trong tình hình hiện nay.
III. MỤC TIÊU - KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
1. Mục tiêu
Xuất phát từ các yêu cầu cấp thiết về quản lý các lĩnh vực nói trên, BVTW Huế đã quyết định xây dựng 01 mạng vi tính hoàn chỉnh nhằm đạt dược tất cả các 03 mục tiêu đề ra:
- Quản lý bệnh nhân: Hồ sơ bệnh án vào viện, ra viện, lưu trữ, trích lập báo cáo thống kê hàng ngày,. hàng tháng, hàng quý...
- Quản lý tài chính:đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực thu một phần viện phí. Bao gồm tất cả các chi phí của bệnh nhân: tiền thuốc, tiền giường, VTTH...Trích Lập báo cáo thu, chi...
- Quản lý Dược: Quản lý được 03 khâu: nhập - xuất -tồn. Trích lập báo cáo nhập, xuất tồn, lên dự trù thuốc...
- Chuẩn bị có sở cho việc phát triển các chương trình khác: quản lý nhân lực, khám chữa bệnh ngoại trú, đào tạo từ xa...
2. Kế hoạch
- Nhân Lực
Trải qua hơn 14 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ứng dụng CNTT, BVTW Huế đã đào tạo và quy tụ được một đội các chuyên gia về lĩnh vực CNTT, thành lập Ban Công nghệ thông tin, Ban điều hành mạng và tổ kỹ thuật :
+Trưởng ban CNTT : PGS.TS. Phạm Như Thế -Trưởng ban
+Trưởng ban Điểu hành mạng: TS. Bùi Đức Phú - Trưởng ban
+Đội ngũ cán bộ trục tiếp điều hành mạng: 12 KS tin học và 2 BS tốt nghiệp cử nhân tin học.
+Đội ngũ cán bộ sử dụng mạng: 120 điều dưỡng, nhân viên Tài vụ, Dược và KHTH đã được qua đào tạo 1 tháng và đều có thể tham gia trực tiếp vào mạng.
- Cơ sở vật chất
+Nguồn kinh phí: bao gồm 02 nguồn:
·Bệnh viện đã tranh thủ viện trợ của Đức thông qua tổ chức PACOM của Việt nam (40.000USD).
·Từ ngân sách bệnh viện.
- Mạng nội bộ
+Phần cứng:
·Hệ thống đường dây và các thiết bị đính kèm: Đây là một hệ thống mạng tương đối hoàn chỉnh
·Áp dụng công nghệ cáp quang (đối với 03 đường dây chính - backbone).
·Đảm bảo bao phủ trên một diện tích rộng lớn >12 hécta.
·Đáp ứng dược nhu cầu sử dụng trước mắt và đặc biệt trong tương lai.
·Các giải pháp cho các tòa nhà sắp xây dựng đã được đặt ra: như dự án Trung tâm Y tế chuyên sâu của miền Trung, dự án về trung tâm tim mạch của tổ chức Đông tây Hội ngộ...
+Máy chủ: Chú trọng đến các giải pháp an toàn về dữ liệu:
·Lắp đặt 01 máy chủ và 01 máy backup.
·Giải pháp sao lưu: qua máy con và qua CDROM hàng ngày.
·Giải pháp về nguồn điện: Tất cả các thiết bị mạng cũng như các máy con đều được gắn vào hệ thống điện ưu tiên của bệnh viện và hệ thống lưu trữ điện.
+Máy con: tổng số máy con tham gia vào mạng khoảng: 50 máy
- Phần mềm
Để đạt được 03 mục tiêu trên, đòi hỏi phải có một phần mềm mang tính toàn diện, liên kết được số liệu của cả 03 bộ phận: Bệnh án-thu phí-Dược.
Xuất phát tứ ý tưởng đó, BVTW Huế đã xây dựng được một phần mềm hoàn chỉnh, gồm 03 modul liên kết rất chặt chẽ, lấy thông tin từ hồ sơ bệnh án vào viện làm gốc (số nhập viện).
(Picture 120.1)
- Tính năng của chương trình quản lý bệnh nhân:
+ Quản lý bệnh nhân ngay tử khi mới nhập viện, đồng thời cấp số nhập viện và tem nhập viện.
+ Tem nhập viện: là một hình thức "số nhập viện lưu động”, giúp cho việc xác định một cách chính xác bệnh nhân trong quá trình nhập liệu như tạm ứng, nhập thuốc, VTTH, xét nghiệm, thanh quyết toán...
+ Ghi nhận được toàn bộ các số liệu chuyên môn KCB trên từng bệnh nhân, từ đó nắm được toàn bộ các hoạt động chuyên môn hàng ngày của tất cả các khoa phòng trong toàn bệnh viện và trình BGĐ lúc 8 giờ 30 sáng.
+Lưu trữ hồ sơ bệnh nhân ra viện một cách khoa học. Giúp cho việc trích lập các số liệu chuyên môn, NCKH... được chính xác và nhanh chóng.
(Picture 121.1)
- Tính năng của chương trình thu phí
+Áp dụng hình thức thu phí mới: Tạm ứng nhiều lần và thanh toán một lần. Do đó rất tiện lợi cho bệnh nhân và làm đơn giản thủ tục thu phí, bệnh viện chỉ viết hóa đơn tài chính 1 lần duy nhất khi bệnh nhân ra viện.
+Công khai về mọi chi phí của bệnh nhân hàng ngày và khi ra viện. Giúp bệnh nhân có thể yên tâm về các khoản chi tiêu trong thời gian nằm viện, đảm bảo tính công bằng trong công tác chăm sóc về y tế mà Bộ y tế rất quan tâm.
+Các chế độ miễn giảm được điều chỉnh một cách thích hợp, chính xác. Tạo điều kiện cho người nghèo, diện chính sách được hưởng đầy đủ các ưu tiên về chăm sóc sức khỏe của Nhà nước ta.
+Quản lý tài chính một cách khoa học ở mọi lĩnh vực thu chi.
+Giảm thiểu tối đa các khoản thất thu cho bệnh viện.
(Picture122.1)
- Tính năng của chương trình quản lý dược
+Quản lý được số nhập-xuất-tồn hàng ngày. Giúp cho việc quản lý nguồn thuốc, lên dự trù thuốc được chính xác và cp nhật.
+Quản lý được việc phân bổ thuốc cho bệnh nhân, khoa phòng được chính xác, đầy đủ.
(Picture 122.2)
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐUỢC
Sau hơn 3 tháng triển khai mạng máy tính trên 03 lĩnh vực: Hồ sơ bệnh án, Thu phí và Dược đến nay BVTW đã thu được rất nhiều kết quả khá mỹ mãn. Một lần nữa nó đã khẳng định được ưu thế của việc ứng dụng tin học vào việc quản lý, bao gồm:
- Việc quản lý hồ sơ bệnh án được nhanh chóng chính xác, trích lập các báo cáo thống kê cho BV cũng như cho Bộ y tế được dễ dàng và chính xác.
- Toàn bộ việc thu chi từ nguồn viện phí được thông qua mạng máy tính. Tránh được thất thu một cách đáng kể. Thực hiện được chính sách công khai thuốc, chi phí của bệnh nhân trong suốt quá trình nằm viện. Đảm bảo tính công bằng trong việc chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.
- Tạo điều kiện để thực hiện chủ trương bệnh viện cung cấp thuốc đầy dủ cho bệnh nhân. Không để bệnh nhân mua thuốc ngoài với giá cao.
- Công tác quản lý bệnh viện được khoa học, chính xác đầy đủ và kịp thời.
KẾT LUẬN:
Tóm lại việc ứng dụng tin học vào công tác quản lý tại BVTW Huế trong những năm vừa qua đã đem lại những lợi ích vô cùng thiết thực. Góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng quản lý cũng như công tác KCB.
Trong những năm sắp đến, ngoài việc mở rộng phạm vi hoạt động, BV sẽ sớm hoàn chỉnh phần mềm, phát triển trang web để chuẩn bị cho công tác chẩn đoán, KCB, đào tạo từ xa. Đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản mà BV được Bộ Y tế giao trong chương trình chỉ đạo về chuyên môn cho các tỉnh trong khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.