Có nhiều khái niệm về cổng thông tin điện tử tích hợp khác nhau, và cho đến
nay chưa có khái niệm nào được coi là chuẩn xác. Trong phạm vi dự án này, chúng
ta tạm sử dụng khái niệm sau cho cổng thông tin điện tử tích hợp (portal).
“Cổng thông tin điện tử tích hợp là điểm truy cập tập trung và duy nhất,
tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và ứng dụng, phân phối tới người sử
dụng thông qua một phương thức thống nhất và đơn giản trên nền tảng Web”
Phân loại portal
Cổng thông tin điện tử cung cấp cho người dùng cuối nhiều loại dịch vụ khác
nhau với nhiều nhu cầu khác nhau, có thể phân loại các portal như sau:
Cổng thông tin công cộng (Public portals): ví dụ như Yahoo, loại
cổng thông tin này thường được sử dụng để ghép nối các thông tin lại với
nhau từ nhiều nguồn, nhiều ứng dụng và từ nhiều người, cho phép cá nhân hoá
(personalization) các Web site theo tuỳ từng đối tượng sử dụng.
Cổng thông tin doanh nghiệp (“Enterprise portals” hoặc “Corporate
Desktops”): được xây dựng để cho phép các thành viên của doanh nghiệp sử
dụng và tương tác trên các thông tin và ứng dụng nghiệp vụ tác nghiệp của
doanh nghiệp.
Cổng giao dịch điện tử (Marketplace portals): ví dụ như eBay và
ChemWeb, cổng thông tin này là nơi liên kết giữa người bán và người mua.
Cổng thông tin ứng dụng chuyên biệt (Specialized portals): ví dụ
như SAP portal, cổng thông tin loại này cung cấp các ứng dụng chuyên biệt
khác nhau.
Các tính năng cơ bản của portal
Tuy có nhiều loại cổng thông tin tích hợp, cung cấp nhiều loại dịch vụ và ứng
dụng khác nhau, nhưng tất cả các loại cổng thông tin tích hợp đều có chung một
số tính năng. Các tính năng này là được sử dụng như một tiêu chuẩn để phân biệt
giữa cổng thông tin điện tử tích hợp với một Web site hoặc một ứng dụng chạy
trên nền tảng Web. Các tính năng đó bao gồm:
Khả năng cá nhân hoá (Customization hay Personalization): cho
phép thiết đặt các thông tin khác nhau cho các loại đối tượng sử dụng khác
nhau theo yêu cầu. Tính năng này dựa trên hoạt động thu thập thông tin về
người dùng và cộng đồng người dùng, từ đó cung cấp các thông tin chính xác
tại thời điểm được yêu cầu.
Tích hợp và liên kết nhiều loại thông tin (Content aggregation):
cho phép xây dựng nội dung thông tin từ nhiều nguồn khác nhau cho nhiều đối
tượng sử dụng. Sự khác biệt giữa các nội dung thông tin sẽ được xác định qua
các ngữ cảnh hoạt động của người dùng (user-specific context), ví dụ như đối
với từng đối tượng sử dụng sau khi thông qua quá trình xác thực thì sẽ được
cung cấp các thông tin khác nhau, hoặc nội dung thông tin sẽ được cung cấp
khác nhau trong quá trình cá nhân hoá thông tin.
Xuất bản thông tin (Content syndication): thu thập thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau, cung cấp cho người dùng thông qua các phương pháp
hoặc giao thức (protocol) một cách thích hợp. Một hệ thống xuất bản thông
tin chuyên nghiệp phải có khả năng xuất bản thông tin với các định dạng đã
được quy chuẩn, ví dụ như RDF (Resource Description Format), RSS (Rich Site
Summary), NITF (News Industry Text Format) và NewsXML. Ngoài ra, các tiêu
chuẩn dựa trên XML cũng phải được áp dụng để quản trị và hiển thị nội dung
một cách thống nhất, xuyên suốt trong quá trình xuất bản thông tin. Các tiêu
chuẩn dựa trên XML này cho phép đưa ra giải pháp nhanh nhất để khai thác và
sử dụng thông tin trên các Web site khác nhau thông qua quá trình thu thập
và bóc tách thông tin với các định dạng đã được quy chuẩn.
Hỗ trợ nhiều môi trường hiển thị thông tin (Multidevice support):
cho phép hiển thị cùng một nội dung thông tin trên nhiều loại thiết bị khác
nhau như: màn hình máy tính (PC), thiết bị di động (Mobile phone, Wireless
phone, PDA), sử dụng để in hay cho bản fax…. một cách tự động bằng cách xác
định thiết bị hiển thị thông qua các thuộc tính khác nhau. Ví dụ: cùng một
nội dung đó, khi hiển th trên màn hình máy tính thì sử dụng HTML, nhưng khi
hệ thống xác định được thiết hiển thị là PDA hay mobile phone, hệ thống sẽ
loại bỏ các ảnh có trong nội dung và tự động chuyển nội dung đó sang định
dạng WML (Wireless Markup Language) để phù hợp cho việc hiển thị trên màn
hình của thiết bị di động.
Khả năng đăng nhập một lần (Single Sign On): cho phép dịch vụ
xuất bản thông tin hoặc các dịch vụ khác của portal lấy thông tin về người
dùng khi hoạt động mà không phải yêu cầu người dùng phải đăng nhập lại mỗi
khi có yêu cầu. Đây là một tính năng rất quan trọng vì các ứng dụng và dịch
vụ trong portal sẽ phát triển một cách nhanh chóng khi xuất hiện nhu cầu, mà
các ứng dụng và dịch vụ này tất yếu sẽ có các nhu cầu về xác thực hoặc truy
xuất thông tin người dùng.
Quản trị portal (Portal administration): xác định cách thức hiển
thị thông tin cho người dùng cuối. Tính năng này không chỉ đơn giản là thiết
lập các giao diện người dùng với các chi tiết đồ hoạ (look-and-feel), với
tính năng này, người quản trị phải định nghĩa được các thành phần thông tin,
các kênh tương tác với người sử dụng cuối, định nghĩa nhóm người dùng cùng
với các quyền truy cập và sử dụng thông tin khác nhau.
Quản trị người dùng (Portal user management): cung cấp các khả
năng quản trị người dùng cuối, tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng của portal.
Tại đây, người sử dụng có thể tự đăng ký trở thành thành viên tại một công
thông tin công cộng (như Yahoo, MSN…) hoặc được người quản trị tạo lập và
gán quyền sử dụng tương ứng đối với các công thông tin doanh nghiệp. Mặt
khác, tuỳ vào từng kiểu portal mà số lượng thành viên có thể từ vài nghìn
tới hàng triệu. Hiện tại phương pháp phân quyền sử dụng dựa trên vai trò
(Role-based security) được sử dụng như một tiêu chuẩn trong các hoạt động
xác định quyền truy cập và cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau
trong các portal cũng như các ứng dụng Web.