| Bàn về lựa chọn giải pháp
portal cho tỉnh, thành phố (Phần 2) (14/09/2004) -
Bài viết này nhằm mục đích chia sẻ những nghiên cứu và đề xuất một trong nhiều
giải pháp tham khảo cho các nhà quản lý cũng như các nhà chiến lược về công nghệ
thông tin của địa phương tỉnh, thành phố. Do sự khác biệt đáng kể về mô hình
quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước cấp tỉnh thành phố với các bộ ngành,
do khuôn khổ có hạn, bài viết giới thiệu tập trung vào giải pháp cho cấp tỉnh,
thành phố. Tài liệu này được bố cục để nêu lên những nội dung chính sau đây:
trình bày cách tiếp cận theo hướng portal, các khái niệm và giải nghĩa gần gũi
với người đọc, một số tóm tắt phân tích về web site truyền thống và portal,
những băn khoăn và giải đáp, cách nhìn tổng thể về phát triển portal theo một lộ
trình giả định, các mô hình triển khai portal với giải pháp VPortal. Phần Giới
thiệu chung dành cho các nhà quản lý ưu tiên xem xét, trong khi các nội dung
tiếp theo chuyên về công nghệ hơn dành cho các nhà kỹ thuật.
II. Lộ trình ứng dụng điển hình của portal
Nhằm cung cấp cho các nhà quản lý và hoạch định chiến lược một phương án
tham khảo với cách tiếp cận hệ thống, phần này trình bày một giả định ứng dụng
portal tại một tỉnh, TP.. ở đây cần lưu ý rằng Website vẫn có thể là lựa chọn
cho những phát triển về cung cấp thông tin một chiều, giản đơn, và không có dự
định mở rộng theo hướng cải cách hành chính và chính phủ điện tử. Với cách tiếp
cận của việc ứng dụng portal vào công cuộc này, người lãnh đạo có vai trò quyết
định bởi sự am tường về xu hướng ứng dụng công nghệ và sự thuận lợi những công
nghệ này mang lại cho việc thể hiện những chủ trương cải cách trong môi trường
hợp nhất, mở và mang tính cộng đồng trên portal. Mục tiêu đặt ra là xây dựng
“cổng giao tiếp điện tử” của địa phương với giả thiết là giải pháp portal đã sẵn
sàng, đồng nghĩa với việc sẵn sàng về nền tảng công nghệ, đã Việt hóa, có môi
trường phát triển ứng dụng mới, có các ứng dụng cơ bản, có các ứng dụng phục vụ
ngay cho quản lý hành chính.
Các bước kế thừa của quá trình ứng dụng được mô tả trong phương hướng và nội
dung của từng bước. Các ước lượng thời gian chỉ mang tính chất giả định, thực tế
khảo sát thiết kế và kế hoạch của địa phương có thể khác. Ngoài ra, các nội dung
của các bước có thế tiến hành song song hoặc theo lựa chọn cho phù hợp với nhu
cầu quản lý.
Phần 1. Từ 3 tháng đến 18 tháng
1.Bước đầu tiên là đưa thông tin lên mạng. Mạng được hiểu là mạng Internet
(mạng quốc tế), và/hoặc mạng intranet (nghĩa là mạng nội bộ trong một phạm vi
quản lý hành chính, có thể khác với mạng cục bộ LAN), do portal có thể được sử
dụng trên mọi môi trường, kể cả kết hợp Internet và intranet.
2.Phần mềm lõi VPortal Framework được triển khai nhanh chóng trong vòng
2-3 tuần để cung cấp một môi trường thử nghiệm và thể hiện các ý tưởng ứng dụng
cụ thể. Phần mềm này đã bao gồm một số ứng dụng quản trị và xuất bản thông tin,
vì vậy dùng được ngay để dựng một Website với một số tính năng cơ bản của
portal. Tuy nhiên, tại bước thử nghiệm này, sự phân biệt ích lợi giữa portal và
Website kiểu cũ là không rõ ràng, và công tác tuyên truyền liên quan đến việc
ứng dụng portal cũng cần điều chỉnh cho phù hợp.
3.Tích hợp những nguồn thông tin trên mạng, các trang web đã có. Đưa lên
portal, và/hoặc tổ chức liên kết (link) các nguồn thông tin này với nhau. Phần
việc này có thể bao gồm việc chuyển đổi toàn bộ Website cũ của đơn vị sang môi
trường portal (một ví dụ để hình dung là việc chuyển đổi các trang tin dạng HTML
và scripts sang dạng cơ sở dữ liệu có phân loại của VPortal), đồng thời tái sử
dụng các ứng dụng cũ trên website hoặc viết lại ứng dụng Java trên portal. Công
việc tích hợp ứng dụng là việc duy trì các ứng dụng cũ nhưng có sửa đổi các giao
tip với phần mềm VPortal để thực hiện các trao đổi thông tin trên môi trường
portal mà không phải trên một Website đơn lẻ như trước đây. VPortal đã cung cấp
các chuẩn giao tiếp và các “khe cắm” để ghép nối các ứng dụng này. Đồng thời, ở
mức tích hợp cao hơn, các ứng dụng cũ nếu có thể, sẽ được chuyển đổi thành dạng
cung cấp các chương trình dạng web service để cung cấp dữ liệu cho portal.
4.Sau thời điểm này, “Website mới” hay đúng hơn là portal của địa phương
sẽ là dạng Website được làm giàu nội dung và dịch vụ. Quá trình làm giàu này sẽ
phải liên tục duy trì và phát triển dưới sự chỉ đạo tập trung của lãnh đạo địa
phương và các cơ quan chuyên trách về tính pháp lý của thông tin, ví dụ các thủ
tục hành chính, các thông tin giới thiệu các cơ quan, v.v... Một số ứng dụng và
thông tin điều hành tác nghiệp có thể được bổ sung theo yêu cầu quản lý.
Phần 2. Từ 6 tháng đến 24 tháng
1.Tiếp tục làm giàu portal với các luồng xử lý và giao tiếp của các cơ quan
tham gia portal.
2.Bổ sung những dịch vụ phục vụ điều hành tác nghiệp, như ứng dụng tra
cứu công báo chính phủ ở dạng toàn văn mã Unicode, CSDL văn bản pháp qui của địa
phương, của các cơ quan trực thuộc, khả năng cập nhật tự động bằng tác tử
(agent) mỗi khi có thay đổi và cập nhật văn bản mới, dần dần bổ sung các luồng
công việc và nâng cao khả năng công khai hóa.
3.Xây dựng giao tiếp giữa UBND, sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã trên
portal, bao gồm cả các trang web của từng đơn vị, đã có hoặc sẽ xây dựng bằng
portal.
4.Hoàn thiện cơ chế xác thực tập trung thông qua các dịch vụ/server về
xác thực (ví dụ LDAP, CAS, SSO).
5.Kết hợp với cải cách hành chính, triển khai các ứng dụng thông báo
trạng thái xử lý thủ tục hành chính của địa phương thông qua các cơ chế 1 cửa.
Phần 3. Từ 3 tháng đến 24 tháng
1.Nâng cao năng lực phục vụ điều hành, gồm các hệ thống ví dụ như:
a.Ứng dụng hệ thống báo cáo trạng thái hồ sơ công văn trong cơ quan (DocPro -
Report Status), tiếp theo là DocPro đầy đủ, mở rộng triển khai đến các cấp cơ sở
và cấp chuyên viên của cơ sở.
b.Lịch công tác của lãnh đạo các cấp
c.Bổ sung các hệ thống ứng dụng phân cấp theo quản lý hành chính đến cấp cơ sở,
theo từng bước như đến cấp Sở-Ban-Ngành-Quận-Huyện (viết tắt là SBNQH), tiếp
theo đến cấp Phường Xã, v.v... Các hệ thống mạng diện rộng này hoạt động trên
nền tảng portal và được thiết kế độc lập với portal. Danh mục của các hệ thống
diện rộng này có thể tiếp tục mở rộng ở các giai đoạn sau, nhưng cơ chế tổ chức
thực hiện triển khai đều gắn liền với nâng cao năng lực của các cấp quản lý hành
chính có liên quan và đến toàn bộ quá trình cải cách hành chính ở địa phương.
2.Cải thiện năng lực hệ thống thông qua triển khai các tính năng phục vụ
diện rộng hơn, bao gồm cân bằng tải bằng nhiều server cho các nhóm dịch vụ khác
nhau, ...
3.Kết hợp với cải cách hành chính, triển khai các ứng dụng giao tiếp 1
cửa để xử lý thủ tục hành chính của địa phương.
Phần 4. Từ 6 tháng đến 48 tháng
1.Hướng đến CPĐT: Lưu ý rằng cách hiểu chính phủ điện tử (CPĐT) đồng nghĩa
với dịch vụ công là thiếu sót. Khái niệm căn bản nhất của CPĐT là khả năng tương
tác liên thông (tạm dịch từ thuật ngữ “interoperability”), mà dịch vụ công chỉ
là phần thể hiện công cộng. Từ ngữ “interoperability” cũng có thể được gọi là xử
lý liên ngành.
2.Tổ chức các dịch vụ công
3.Tổ chức thông tin và mở rộng theo hướng portal cộng đồng...
4.Các bước phát triển tiếp theo không hạn chế trong một khuôn khổ thời
gian nhất định nào.
Trong lộ trình này, định hướng phát triển cổng giao tiếp điện tử của tỉnh, TP.
đã thể hiện những bước đi kết hợp hài hòa giữa 2 lựa chọn: cổng giao tiếp mang
tính chất cộng đồng và cổng giao tiếp mang tính chất điều hành tác nghiệp. Đối
với các phát triển về cổng giao tiếp trên thế giới, các giai đoạn đầu tiên
thường đặt trọng tâm vào phát triển theo hướng phục vụ cộng đồng, mà phần điều
hành tác nghiệp của chính quyền ít được nhắc đến. Các bước đưa dịch vụ điều hành
tác nghiệp của chính quyền (mà cụ thể là các chuyên viên thực thi, và các công
dân) của những nước này cũng khá dè dặt và thường được đại diện bằng một số dịch
vụ mang tính chất thanh toán và mua bán, mà không có các dịch vụ phục vụ trực
tiếp điều hành tác nghiệp như ở Việt Nam. Vì vậy, lộ trình giả định này có thể
là một gợi ý tham khảo đặc biệt cho các cơ quan quản lý hành chính ở Việt Nam.
III. Mô hình giải pháp VPortal cho tỉnh, thành phố
Giải pháp VPortal được kiểm nghiệm vận hành ổn định và phát triển vững chắc
đang là lựa chọn của nhiều đơn vị quản lý hành chính nhà nước. Một giải pháp
phần mềm VPortal bao gồm 3 gói phần mềm chính sau:
- VPortal Framework: phần mềm lõi, bao gồm uPortal nguyên thủy được Việt hóa, và
các ứng dụng bổ sung được phát triển để hoàn thiện phiên bản cài đặt VPortal với
các tính năng đầy đủ về portal.
- Các công cụ hệ thống: như các công cụ quản trị, công cụ thay đổi cấu trúc
website,…
- Các ứng dụng đi kèm: ứng dụng tích hợp từ các nguồn ứng dụng khác và ứng dụng
phát triển bằng Java trên nền VPortal.
Trước tiên, một portal chung cho tỉnh, TP. được trình bày trong “Mô hình tổng
quát”. Mối quan tâm của người dân về mô hình là không đáng kể, trong khi mối
quan tâm đầu tiên của các cơ quan đơn vị trong tỉnh, TP. là họ sẽ tham gia
portal như thế nào và được lợi ích gì. Các cơ quan này là cơ sở cung cấp các dữ
liệu tác nghiệp và dữ liệu chuyên ngành lên portal. Đối với portal, các SBNQH là
những trụ cột thông tin và dịch vụ, làm cho portal hoạt động có ích, và dần dần
SBNQH sẽ thu được ích lợi từ một ngôi nhà chung là portal của địa phương. Đó là
một phần của triết lý về portal là tính chất cộng đồng của ứng dụng CNTT thúc
đẩy sự phát triển cộng đồng. Điều quan tâm của chúng ta là các SBNQH sẽ tích hợp
với portal như thế nào. Với những vấn đề cụ thể ở từng địa phương về các yêu cầu
quản lý điều hành, các định hướng phát triển, các tài nguyên ứng dụng CNTT ở các
đơn vị như thế nào, v.v... thì giải pháp tích hợp sẽ được đề xuất cụ thể. Trong
phạm vi của bài viết, những phần dưới đây chỉ có thể nêu lên một cách khái quát
về mô hình tích hợp của các SBNQH cho một tỉnh, TP..
1. Mô hình tổng quát
Hệ thống VPortal là một khối gắn kết chặt chẽ các thành phần với nhau nhưng
vẫn đảm bảo được tính mềm dẻo, tính mở và độ ổn định, an toàn cho hệ thống. Mô
hình của VPortal như sau:
.jpg)
Giải thích các thành phần trong mô hình:
- Người sử dụng: là người duyệt web.
- Giao diện với người dùng: Là các trang web dùng để giao tiếp. Giao diện
này là các trang web do hệ thống sinh ra tùy vào người truy nhập và yêu cầu truy
nhập, có thể thiết lập sẵn hoặc thay đổi nội dung riêng.
- VPortal Framework: nền tảng phần mềm được gọi là lõi hệ thống. Chi tiết
tính năng được mô tả kỹ hơn trong tài liệu tại địa chỉ
http://www.vietsoftware.com/vportal.html, trong đó lưu ý về cơ chế bảo
mật tích hợp sẵn (built-in), sinh mã phiên ngẫu nhiên và mã này không tái sử
dụng được. Đây chính là khả năng bảo mật rất cao và gây cho người dùng web thông
thường cảm giác không thân thiện vì không còn dùng nút “Back” thoải mái như với
Website, hoặc thậm chí không dùng được nút này của trình duyệt nữa. Nếu muốn bỏ
đi tính bảo mật cao này, VPortal vẫn cho phép dùng lại nút “Back” của trình
duyệt.
- Ứng dụng/kênh: Kênh là tên gọi chung cho phần mềm ứng dụng hoặc phần
mềm hệ thống trên portal. Người truy nhập web nhìn thấy các ô phân chia khu vực
chức năng hoặc mảng thông tin trong một trang web, và họ được “vào trong” các ô
đó để xem thông tin hay thực hiện tác vụ do một chương trình ứng dụng nào đó đảm
nhiệm. Các khu vực hoặc các ô trên trang web chính là thể hiện bên ngoài của các
ứng dụng hay còn gọi là các kênh trên portal. Các nhà phát triển và quản trị hệ
thống có thể bổ sung các ứng dụng chạy trên portal, thiết kế các tổ hợp ứng dụng
cho một mục đích xử lý tác nghiệp và dịch vụ riêng, họ làm như thế với các đơn
vị thông tin là các ứng dụng, hay các kênh. Khi một đơn vị nào đó hay một tổ
chức có website là portal, nội dung thông tin hay dịch vụ của website có thể dần
được mở rộng, bổ sung bằng cách bổ sung các kênh mới một cách dễ dàng và thuận
tiện mà đơn vị chủ website có thể tự làm được không cần nhờ đến đơn vị xây dựng
website đó.
- Ứng dụng tích hợp: Là các ứng dụng đã xây dựng cần được tích hợp vào hệ
thống. Các ứng dụng này gồm nhiều loại: các ứng dụng từ trước khi xây portal,
các ứng dụng phát triển trên portal, các ứng dụng của các nhà cung cấp dịch vụ
khác nhau phát triển theo công nghệ mở và trên nền web, các dịch vụ chuẩn do các
nhà cung cấp dịch vụ từ khắp nơi trên thế giới, v.v...Khi được tích hợp vào hệ
thống portal, các ứng dụng này trở thành tài nguyên dùng chung của portal, chỉ
những ai được cấp quyền truy nhập và sử dụng tài nguyên mới được dùng. Ví dụ có
những ứng dụng như Công báo hay DocPro (Quản lý Công văn) được xây dựng trên nền
hệ thống Lotus Notes được tích hợp vào VPortal và trở thành những kênh thông tin
của VPortal. Các ứng dụng có sẵn của địa phương trên nền web cũng có thể tích
hợp với một số sửa đổi. Bài toán tích hợp ứng dụng chỉ được giải quyết trên cơ
sở các chuẩn công nghiệp, và không phải là cách giải quyết vạn năng cho tất cả
các trường hợp. Lưu ý này kéo chúng ta lại gần với thực tế ở Việt Nam hơn, bởi
vì nếu chúng ta muốn tích hợp một phần mềm nào đó vào portal trong khi phần mềm
này không được thiết kế mở, không dùng giao thức chuẩn mà dùng các giao thức tự
tạo, hoặc thậm chí chỉ được thiết kế cho 1 hệ thống gói kín, v.v... thì khả năng
tích hợp được gần như không thể.
- Các tài nguyên được phép dùng: Ví dụ trên mô hình nhằm giải thích
“quyền” của Người sử dụng. Trong kho tài nguyên của portal có sẵn các ứng dụng
bao gồm: ứng dụng 1, 2 và 3, cùng với các ứng dụng tích hợp 1 và 2. Do Người sử
dụng được qui định quyền nhìn thấy và quyền sử dụng các ứng dụng 1 và 2, và ứng
dụng tích hợp 2, nên Người sử dụng có thể chọn tất cả hoặc một số các ứng dụng
này để đưa vào màn hình riêng của mình để sẵn sàng sử dụng mỗi khi đăng nhập vào
portal. Ví dụ này cũng áp dụng cho các mục thông tin và dữ liệu khác.
- Các thành phần hạ tầng: Là các chức năng hệ thống, các thành phần hạ
tầng gắn liền với Framework, gồm có: đăng nhập một lần (Single-Sign-On), xác
thực người dùng, cấp quyền, quản lý người dùng và nhóm người dùng, an toàn, bảo
mật, phân loại và quản trị nội dung.
Hệ thống VPortal có khả năng sử dụng những hệ thống hạ tầng của bên thứ ba song
song hoặc thay thế cho những hệ thống built-in ở trên. Chẳng hạn như nó có thể
sử dụng hệ thống quản lý người dùng Active Directory của Microsoft hay LDAP thay
cho hệ thống quản lý người dùng built-in. Điều này giúp cho việc người sử dụng
chỉ cần 1 tài khoản thông thường của hệ thống mạng văn phòng (thường là
Microsoft Windows) sau khi đăng nhập hệ thống mạng văn phòng là tự động được coi
là đã đăng nhập hợp lệ vào portal. Sau đó, người sử dụng này được dùng các dịch
vụ được cấp quyền cho người dùng hợp lệ đó.
- Database (Cơ sở dữ liệu): dùng để lưu trữ các thông tin dữ liệu của hệ
thống, và lưu trữ các thông tin dữ liệu của các ứng dụng. Các database này có
thể là SQL Server, Oracle, PostgreSQL, My SQL, DB2, v.v...
- Các kiểu nguồn dữ liệu khác: Một điểm khác biệt của portal với các
website truyền thống chính là khả năng khai thác được nhiều nguồn thông tin, dữ
liệu với những dạng khác nhau như trực tiếp từ các các cơ sở dữ liệu; từ các dữ
liệu dạng XML, HTML, RSS,..; từ các tệp thông tin. Các hệ thống VPortal khác:
Các hệ thống VPortal có thể giao tiếp với nhau thông qua các portlet và các
portlet proxy, và web service, vì vậy sự liên thông dịch vụ giữa các portal sẽ
được đảm bảo.
2.Mô hình kết nối, tích hợp với hệ thống của các đơn vị như Sở, Ban, Ngành,
Quận, Huyện
Các cơ quan trực thuộc tỉnh TP. gồm có các Sở, Ban, Ngành, Quận, Huyện có điều
kiện và trình độ khác nhau về ứng dụng CNTT. Đặc thù chức năng quản lý hành
chính và quản lý ngành của các cơ quan này lại không đồng nhất. Nhìn chung tại
nhiều nơi, nhu cầu ứng dụng CNTT chưa phải là chiến lược trọng tâm của các đơn
vị quản lý hành chính, trong khi một số đơn vị thuộc ngành dọc lại có những bước
tiến khá xa so với các đơn vị quản lý hành chính như Sở, Quận, Huyện. Mô hình
trình bày ở đây có giả thiết là tất cả các đơn vị SBNQH đều có kế hoạch và nỗ
lực chủ quan để cộng tác xây dựng hệ thống theo chủ trương của lãnh đạo tỉnh,
TP.. Chúng ta có nhiều cách theo nhiều tiêu chí khác nhau để xếp loại các đơn vị
SBNQH về độ sẵn sàng ứng dụng CNTT và khả năng tích hợp vào portal của tỉnh,
TP.. Một trong những cách xếp loại là xem xét theo cấp độ về cách tiếp cận của
SBNQH như thế nào, bao gồm:
- Loại A. SBNQH có hệ thống và qui hoạch rõ ràng theo các kiến trúc mở và
trên nền web;
- Loại B. SBNQH có nhiều ứng dụng nghiệp vụ nhưng không có qui hoạch và
tầm nhìn hệ thống, các ứng dụng bổ sung qua nhiều thời kỳ, chắp vá;
- Loại C. Và cuối cùng là các SBNQH hầu như chưa có ứng dụng CNTT hoặc
chưa có kế hoạch (tạm gọi là “vùng trắng”).
Cách xếp loại này không phụ thuộc vào các tiêu chí xếp loại đa dạng mà mỗi người
có góc nhìn riêng của mình, đồng thời giúp chúng ta làm rõ mô hình tích hợp hơn.
Để tích hợp được vào portal, như trên đã nói, không phải là dễ dàng và không
phải đương nhiên là tích hợp được, nhưng cũng không quá phức tạp. Các bước đầu
tiên là phải làm cho các hệ thống CNTT ở các SBNQH “sẵn sàng tích hợp”, và tiếp
theo là tích hợp như thế nào. Để cho gọn, chúng ta ký hiệu SSTH thay cho “sẵn
sàng tích hợp”. Trên thực tế, cần có sự hướng dẫn hoặc tư vấn xem “tích hợp như
thế nào” rồi mới làm cho các SBNQH “sẵn sàng tích hợp” được. Tuy nhiên những tư
vấn này chỉ là các tham mưu về công nghệ sao cho toàn tỉnh, TP. có kiến trúc
công nghệ tiến tiến và đảm bảo môi trường mở, mà không có được vai trò chỉ đạo
và tổ chức thực hiện như UBND tỉnh, TP., cũng như lãnh đạo tại các SBNQH. Một
tâm lý khá phổ biến là tích hợp đồng nghĩa với việc đưa Website của SBNQH lên
portal của tỉnh, TP.. Điều này đúng nhưng không đủ. Bên trong Website đó phải có
cái lõi của nghiệp vụ và bộ máy cung cấp thông tin, dựa trên phát triển các hệ
thống theo 2 hướng hài hòa là quản lý điều hành và chuyên ngành (nếu có).
.jpg)
Theo minh họa trong mô hình cải thiện đồng bộ các SBNQH để đạt được trạng thái
SSTH, các đơn vị cơ sở Loại A và Loại C lại có những ưu thế nhất định so với đơn
vị Loại B, vì độ phức tạp hệ thống Loại B là rất lớn, cần được phân tích kỹ hơn
trong trường hợp cụ thể. Để làm cho lõi nghiệp vụ và bộ máy cung cấp thông tin
của SBNQH vận động theo một hướng chung, các bước tiến hành gồm có:
- Điều tra hiện trạng và tư vấn tại SBNQH Nâng cao năng lực hệ thống Chỉnh lý
giao tiếp với portal SSTH
- Nâng cao năng lực hệ thống
- Chỉnh lý giao tiếp với Portal
- SSTH
Để trả lời câu hỏi “tích hợp như thế nào” cần phải biết được nhu cầu của SBNQH.
Thực tế có thể có 2 loại nhu cầu:
- Tích hợp toàn bộ
- Tích hợp giao diện cung cấp thông tin, dịch vụ
Ở loại nhu cầu thứ nhất, “văn phòng điện tử” của đơn vị cơ sở nằm trên portal,
thông thường thực hiện qua môi trường VPN (mạng riêng ảo). Các Sở Ban Ngành
thường không lựa chọn loại tích hợp này do đặc thù và qui mô lớn về nghiệp vụ
quản lý ngành của mình, thậm chí có đơn vị ít có giao tiếp với dân. Loại nhu cầu
thứ hai dành cho cả các loại hình đơn vị cơ sở là SBNQH. Trong số các đơn vị có
nhu cầu này, lại có thể có 2 nhóm nhỏ hơn, đó là: sử dụng Website riêng của đơn
vị, và sử dụng toàn bộ giao dịch qua mạng thông qua portal. Bản thân SBNQH cũng
có thể có portal riêng của mình rồi tích hợp với portal của tỉnh, TP.. Quận Bình
Thạnh (TP. Hồ Chí Minh) đã triển khai portal riêng tại Quận với đầy đủ các ứng
dụng cho hệ thống nội bộ, hy vọng một ngày gần đây có thể tích hợp với CityWeb
của TP. Hồ Chí Minh.
IV. Kết luận
Đến đây, quí vị có thể chia sẻ các thực tế và nhận thức với các tác giả,
hoặc có thêm một cách nhìn nhận và cân nhắc về phát triển cổng giao tiếp điện
tử. Đối với lĩnh vực portal và/hoặc ứng dụng CNTT cho quản lý hành chính và dịch
vụ công thì các giải pháp mã nguồn mở hoặc xuất xứ từ mã nguồn mở là những lựa
chọn tích cực và phù hợp với Việt Nam. Các nỗ lực về kỹ thuật công nghệ chỉ là
bước triển khai các nỗ lực về nhận thức và định hướng phát triển tỉnh, TP. với
việc coi ứng dụng CNTT như một động lực của sự phát triển đó.
|