HT MEDSOFT

CTY TNHH PHÁT TRIỂN ĐIỆN TOÁN Y KHOA
HOÀNG TRUNG - NGUYÊN KHÔI

Vietnam Medical Software Development Company Co.,Ltd. - MEDSOFT-VIETNAM Co.,Ltd.

Add: F22 Cư xá Vĩnh Hội, đường Khánh Hội, phường 5, quận 4, TPHCM. - Phone: 0903774437

Website: www.htmedsoft.com  - www.ykhoa.net - Email: phanxuantrung@ykhoa.net

 

YKHOA.NET

PHẦN MỀM
QUẢN LÝ BỆNH VIỆN TOÀN DIỆN

HT MEDSOFT - Công ty hàng đầu của Việt Nam về CNTT y khoa

  Trang chủ
CÔNG TY VÀ DỊCH VỤ
  Giới thiệu công ty
  Phần mềm y khoa
  Hướng dẫn sử dụng
  Demo on youtube
  Bệnh án điện tử (new)
  Khách hàng
  Biểu giá phần mềm
  Báo chí
  Hỏi và đáp
TIN TỨC VÀ KIẾN THỨC
  Thông tin update
  Tin tức MEDSOFT
  CNTT trong y khoa
  Ứng dụng CNTT y khoa
THAM KHẢO
  Dành cho bác sĩ
  Tài liệu
  Văn bản

Hệ thống chẩn đoán hình ảnh PACS

Hệ thống nhận dạng bệnh nhân

Bệnh nhân xem bệnh án trên mạng Internet

Hội chẩn từ xa qua mạng Internet

Kết nối tự động thiết bị y khoa điện tử

Bệnh án điện tử di động

Giải pháp cho quản lý BHYT

 

 

Bàn về lựa chọn giải pháp portal cho tỉnh, thành phố (Phần 2)

(14/09/2004) - Bài viết này nhằm mục đích chia sẻ những nghiên cứu và đề xuất một trong nhiều giải pháp tham khảo cho các nhà quản lý cũng như các nhà chiến lược về công nghệ thông tin của địa phương tỉnh, thành phố. Do sự khác biệt đáng kể về mô hình quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước cấp tỉnh thành phố với các bộ ngành, do khuôn khổ có hạn, bài viết giới thiệu tập trung vào giải pháp cho cấp tỉnh, thành phố. Tài liệu này được bố cục để nêu lên những nội dung chính sau đây: trình bày cách tiếp cận theo hướng portal, các khái niệm và giải nghĩa gần gũi với người đọc, một số tóm tắt phân tích về web site truyền thống và portal, những băn khoăn và giải đáp, cách nhìn tổng thể về phát triển portal theo một lộ trình giả định, các mô hình triển khai portal với giải pháp VPortal. Phần Giới thiệu chung dành cho các nhà quản lý ưu tiên xem xét, trong khi các nội dung tiếp theo chuyên về công nghệ hơn dành cho các nhà kỹ thuật.

 

II. Lộ trình ứng dụng điển hình của portal

Nhằm cung cấp cho các nhà quản lý và hoạch định chiến lược một phương án tham khảo với cách tiếp cận hệ thống, phần này trình bày một giả định ứng dụng portal tại một tỉnh, TP.. ở đây cần lưu ý rằng Website vẫn có thể là lựa chọn cho những phát triển về cung cấp thông tin một chiều, giản đơn, và không có dự định mở rộng theo hướng cải cách hành chính và chính phủ điện tử. Với cách tiếp cận của việc ứng dụng portal vào công cuộc này, người lãnh đạo có vai trò quyết định bởi sự am tường về xu hướng ứng dụng công nghệ và sự thuận lợi những công nghệ này mang lại cho việc thể hiện những chủ trương cải cách trong môi trường hợp nhất, mở và mang tính cộng đồng trên portal. Mục tiêu đặt ra là xây dựng “cổng giao tiếp điện tử” của địa phương với giả thiết là giải pháp portal đã sẵn sàng, đồng nghĩa với việc sẵn sàng về nền tảng công nghệ, đã Việt hóa, có môi trường phát triển ứng dụng mới, có các ứng dụng cơ bản, có các ứng dụng phục vụ ngay cho quản lý hành chính.

Các bước kế thừa của quá trình ứng dụng được mô tả trong phương hướng và nội dung của từng bước. Các ước lượng thời gian chỉ mang tính chất giả định, thực tế khảo sát thiết kế và kế hoạch của địa phương có thể khác. Ngoài ra, các nội dung của các bước có thế tiến hành song song hoặc theo lựa chọn cho phù hợp với nhu cầu quản lý.

Phần 1. Từ 3 tháng đến 18 tháng

1
.Bước đầu tiên là đưa thông tin lên mạng. Mạng được hiểu là mạng Internet (mạng quốc tế), và/hoặc mạng intranet (nghĩa là mạng nội bộ trong một phạm vi quản lý hành chính, có thể khác với mạng cục bộ LAN), do portal có thể được sử dụng trên mọi môi trường, kể cả kết hợp Internet và intranet.

2.Phần mềm lõi VPortal Framework được triển khai nhanh chóng trong vòng 2-3 tuần để cung cấp một môi trường thử nghiệm và thể hiện các ý tưởng ứng dụng cụ thể. Phần mềm này đã bao gồm một số ứng dụng quản trị và xuất bản thông tin, vì vậy dùng được ngay để dựng một Website với một số tính năng cơ bản của portal. Tuy nhiên, tại bước thử nghiệm này, sự phân biệt ích lợi giữa portal và Website kiểu cũ là không rõ ràng, và công tác tuyên truyền liên quan đến việc ứng dụng portal cũng cần điều chỉnh cho phù hợp.

3.Tích hợp những nguồn thông tin trên mạng, các trang web đã có. Đưa lên portal, và/hoặc tổ chức liên kết (link) các nguồn thông tin này với nhau. Phần việc này có thể bao gồm việc chuyển đổi toàn bộ Website cũ của đơn vị sang môi trường portal (một ví dụ để hình dung là việc chuyển đổi các trang tin dạng HTML và scripts sang dạng cơ sở dữ liệu có phân loại của VPortal), đồng thời tái sử dụng các ứng dụng cũ trên website hoặc viết lại ứng dụng Java trên portal. Công việc tích hợp ứng dụng là việc duy trì các ứng dụng cũ nhưng có sửa đổi các giao tip với phần mềm VPortal để thực hiện các trao đổi thông tin trên môi trường portal mà không phải trên một Website đơn lẻ như trước đây. VPortal đã cung cấp các chuẩn giao tiếp và các “khe cắm” để ghép nối các ứng dụng này. Đồng thời, ở mức tích hợp cao hơn, các ứng dụng cũ nếu có thể, sẽ được chuyển đổi thành dạng cung cấp các chương trình dạng web service để cung cấp dữ liệu cho portal.

4.Sau thời điểm này, “Website mới” hay đúng hơn là portal của địa phương sẽ là dạng Website được làm giàu nội dung và dịch vụ. Quá trình làm giàu này sẽ phải liên tục duy trì và phát triển dưới sự chỉ đạo tập trung của lãnh đạo địa phương và các cơ quan chuyên trách về tính pháp lý của thông tin, ví dụ các thủ tục hành chính, các thông tin giới thiệu các cơ quan, v.v... Một số ứng dụng và thông tin điều hành tác nghiệp có thể được bổ sung theo yêu cầu quản lý.

Phần 2. Từ 6 tháng đến 24 tháng

1
.Tiếp tục làm giàu portal với các luồng xử lý và giao tiếp của các cơ quan tham gia portal.

2.Bổ sung những dịch vụ phục vụ điều hành tác nghiệp, như ứng dụng tra cứu công báo chính phủ ở dạng toàn văn mã Unicode, CSDL văn bản pháp qui của địa phương, của các cơ quan trực thuộc, khả năng cập nhật tự động bằng tác tử (agent) mỗi khi có thay đổi và cập nhật văn bản mới, dần dần bổ sung các luồng công việc và nâng cao khả năng công khai hóa.

3.Xây dựng giao tiếp giữa UBND, sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã trên portal, bao gồm cả các trang web của từng đơn vị, đã có hoặc sẽ xây dựng bằng portal.

4.Hoàn thiện cơ chế xác thực tập trung thông qua các dịch vụ/server về xác thực (ví dụ LDAP, CAS, SSO).

5.Kết hợp với cải cách hành chính, triển khai các ứng dụng thông báo trạng thái xử lý thủ tục hành chính của địa phương thông qua các cơ chế 1 cửa.

Phần 3. Từ 3 tháng đến 24 tháng

1
.Nâng cao năng lực phục vụ điều hành, gồm các hệ thống ví dụ như:

a.Ứng dụng hệ thống báo cáo trạng thái hồ sơ công văn trong cơ quan (DocPro - Report Status), tiếp theo là DocPro đầy đủ, mở rộng triển khai đến các cấp cơ sở và cấp chuyên viên của cơ sở.

b.Lịch công tác của lãnh đạo các cấp

c.Bổ sung các hệ thống ứng dụng phân cấp theo quản lý hành chính đến cấp cơ sở, theo từng bước như đến cấp Sở-Ban-Ngành-Quận-Huyện (viết tắt là SBNQH), tiếp theo đến cấp Phường Xã, v.v... Các hệ thống mạng diện rộng này hoạt động trên nền tảng portal và được thiết kế độc lập với portal. Danh mục của các hệ thống diện rộng này có thể tiếp tục mở rộng ở các giai đoạn sau, nhưng cơ chế tổ chức thực hiện triển khai đều gắn liền với nâng cao năng lực của các cấp quản lý hành chính có liên quan và đến toàn bộ quá trình cải cách hành chính ở địa phương.

2.Cải thiện năng lực hệ thống thông qua triển khai các tính năng phục vụ diện rộng hơn, bao gồm cân bằng tải bằng nhiều server cho các nhóm dịch vụ khác nhau, ...

3.Kết hợp với cải cách hành chính, triển khai các ứng dụng giao tiếp 1 cửa để xử lý thủ tục hành chính của địa phương.

Phần 4. Từ 6 tháng đến 48 tháng

1
.Hướng đến CPĐT: Lưu ý rằng cách hiểu chính phủ điện tử (CPĐT) đồng nghĩa với dịch vụ công là thiếu sót. Khái niệm căn bản nhất của CPĐT là khả năng tương tác liên thông (tạm dịch từ thuật ngữ “interoperability”), mà dịch vụ công chỉ là phần thể hiện công cộng. Từ ngữ “interoperability” cũng có thể được gọi là xử lý liên ngành.

2.Tổ chức các dịch vụ công

3.Tổ chức thông tin và mở rộng theo hướng portal cộng đồng...

4.Các bước phát triển tiếp theo không hạn chế trong một khuôn khổ thời gian nhất định nào.

Trong lộ trình này, định hướng phát triển cổng giao tiếp điện tử của tỉnh, TP. đã thể hiện những bước đi kết hợp hài hòa giữa 2 lựa chọn: cổng giao tiếp mang tính chất cộng đồng và cổng giao tiếp mang tính chất điều hành tác nghiệp. Đối với các phát triển về cổng giao tiếp trên thế giới, các giai đoạn đầu tiên thường đặt trọng tâm vào phát triển theo hướng phục vụ cộng đồng, mà phần điều hành tác nghiệp của chính quyền ít được nhắc đến. Các bước đưa dịch vụ điều hành tác nghiệp của chính quyền (mà cụ thể là các chuyên viên thực thi, và các công dân) của những nước này cũng khá dè dặt và thường được đại diện bằng một số dịch vụ mang tính chất thanh toán và mua bán, mà không có các dịch vụ phục vụ trực tiếp điều hành tác nghiệp như ở Việt Nam. Vì vậy, lộ trình giả định này có thể là một gợi ý tham khảo đặc biệt cho các cơ quan quản lý hành chính ở Việt Nam.

III. Mô hình giải pháp VPortal cho tỉnh, thành phố

Giải pháp VPortal được kiểm nghiệm vận hành ổn định và phát triển vững chắc đang là lựa chọn của nhiều đơn vị quản lý hành chính nhà nước. Một giải pháp phần mềm VPortal bao gồm 3 gói phần mềm chính sau:

- VPortal Framework: phần mềm lõi, bao gồm uPortal nguyên thủy được Việt hóa, và các ứng dụng bổ sung được phát triển để hoàn thiện phiên bản cài đặt VPortal với các tính năng đầy đủ về portal.

- Các công cụ hệ thống: như các công cụ quản trị, công cụ thay đổi cấu trúc website,…

- Các ứng dụng đi kèm: ứng dụng tích hợp từ các nguồn ứng dụng khác và ứng dụng phát triển bằng Java trên nền VPortal.

Trước tiên, một portal chung cho tỉnh, TP. được trình bày trong “Mô hình tổng quát”. Mối quan tâm của người dân về mô hình là không đáng kể, trong khi mối quan tâm đầu tiên của các cơ quan đơn vị trong tỉnh, TP. là họ sẽ tham gia portal như thế nào và được lợi ích gì. Các cơ quan này là cơ sở cung cấp các dữ liệu tác nghiệp và dữ liệu chuyên ngành lên portal. Đối với portal, các SBNQH là những trụ cột thông tin và dịch vụ, làm cho portal hoạt động có ích, và dần dần SBNQH sẽ thu được ích lợi từ một ngôi nhà chung là portal của địa phương. Đó là một phần của triết lý về portal là tính chất cộng đồng của ứng dụng CNTT thúc đẩy sự phát triển cộng đồng. Điều quan tâm của chúng ta là các SBNQH sẽ tích hợp với portal như thế nào. Với những vấn đề cụ thể ở từng địa phương về các yêu cầu quản lý điều hành, các định hướng phát triển, các tài nguyên ứng dụng CNTT ở các đơn vị như thế nào, v.v... thì giải pháp tích hợp sẽ được đề xuất cụ thể. Trong phạm vi của bài viết, những phần dưới đây chỉ có thể nêu lên một cách khái quát về mô hình tích hợp của các SBNQH cho một tỉnh, TP..

1. Mô hình tổng quát

Hệ thống VPortal là một khối gắn kết chặt chẽ các thành phần với nhau nhưng vẫn đảm bảo được tính mềm dẻo, tính mở và độ ổn định, an toàn cho hệ thống. Mô hình của VPortal như sau:



Giải thích các thành phần trong mô hình:

- Người sử dụng: là người duyệt web.
- Giao diện với người dùng: Là các trang web dùng để giao tiếp. Giao diện này là các trang web do hệ thống sinh ra tùy vào người truy nhập và yêu cầu truy nhập, có thể thiết lập sẵn hoặc thay đổi nội dung riêng.
- VPortal Framework: nền tảng phần mềm được gọi là lõi hệ thống. Chi tiết tính năng được mô tả kỹ hơn trong tài liệu tại địa chỉ http://www.vietsoftware.com/vportal.html, trong đó lưu ý về cơ chế bảo mật tích hợp sẵn (built-in), sinh mã phiên ngẫu nhiên và mã này không tái sử dụng được. Đây chính là khả năng bảo mật rất cao và gây cho người dùng web thông thường cảm giác không thân thiện vì không còn dùng nút “Back” thoải mái như với Website, hoặc thậm chí không dùng được nút này của trình duyệt nữa. Nếu muốn bỏ đi tính bảo mật cao này, VPortal vẫn cho phép dùng lại nút “Back” của trình duyệt.
- Ứng dụng/kênh: Kênh là tên gọi chung cho phần mềm ứng dụng hoặc phần mềm hệ thống trên portal. Người truy nhập web nhìn thấy các ô phân chia khu vực chức năng hoặc mảng thông tin trong một trang web, và họ được “vào trong” các ô đó để xem thông tin hay thực hiện tác vụ do một chương trình ứng dụng nào đó đảm nhiệm. Các khu vực hoặc các ô trên trang web chính là thể hiện bên ngoài của các ứng dụng hay còn gọi là các kênh trên portal. Các nhà phát triển và quản trị hệ thống có thể bổ sung các ứng dụng chạy trên portal, thiết kế các tổ hợp ứng dụng cho một mục đích xử lý tác nghiệp và dịch vụ riêng, họ làm như thế với các đơn vị thông tin là các ứng dụng, hay các kênh. Khi một đơn vị nào đó hay một tổ chức có website là portal, nội dung thông tin hay dịch vụ của website có thể dần được mở rộng, bổ sung bằng cách bổ sung các kênh mới một cách dễ dàng và thuận tiện mà đơn vị chủ website có thể tự làm được không cần nhờ đến đơn vị xây dựng website đó.

- Ứng dụng tích hợp: Là các ứng dụng đã xây dựng cần được tích hợp vào hệ thống. Các ứng dụng này gồm nhiều loại: các ứng dụng từ trước khi xây portal, các ứng dụng phát triển trên portal, các ứng dụng của các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau phát triển theo công nghệ mở và trên nền web, các dịch vụ chuẩn do các nhà cung cấp dịch vụ từ khắp nơi trên thế giới, v.v...Khi được tích hợp vào hệ thống portal, các ứng dụng này trở thành tài nguyên dùng chung của portal, chỉ những ai được cấp quyền truy nhập và sử dụng tài nguyên mới được dùng. Ví dụ có những ứng dụng như Công báo hay DocPro (Quản lý Công văn) được xây dựng trên nền hệ thống Lotus Notes được tích hợp vào VPortal và trở thành những kênh thông tin của VPortal. Các ứng dụng có sẵn của địa phương trên nền web cũng có thể tích hợp với một số sửa đổi. Bài toán tích hợp ứng dụng chỉ được giải quyết trên cơ sở các chuẩn công nghiệp, và không phải là cách giải quyết vạn năng cho tất cả các trường hợp. Lưu ý này kéo chúng ta lại gần với thực tế ở Việt Nam hơn, bởi vì nếu chúng ta muốn tích hợp một phần mềm nào đó vào portal trong khi phần mềm này không được thiết kế mở, không dùng giao thức chuẩn mà dùng các giao thức tự tạo, hoặc thậm chí chỉ được thiết kế cho 1 hệ thống gói kín, v.v... thì khả năng tích hợp được gần như không thể.

- Các tài nguyên được phép dùng: Ví dụ trên mô hình nhằm giải thích “quyền” của Người sử dụng. Trong kho tài nguyên của portal có sẵn các ứng dụng bao gồm: ứng dụng 1, 2 và 3, cùng với các ứng dụng tích hợp 1 và 2. Do Người sử dụng được qui định quyền nhìn thấy và quyền sử dụng các ứng dụng 1 và 2, và ứng dụng tích hợp 2, nên Người sử dụng có thể chọn tất cả hoặc một số các ứng dụng này để đưa vào màn hình riêng của mình để sẵn sàng sử dụng mỗi khi đăng nhập vào portal. Ví dụ này cũng áp dụng cho các mục thông tin và dữ liệu khác.

- Các thành phần hạ tầng: Là các chức năng hệ thống, các thành phần hạ tầng gắn liền với Framework, gồm có: đăng nhập một lần (Single-Sign-On), xác thực người dùng, cấp quyền, quản lý người dùng và nhóm người dùng, an toàn, bảo mật, phân loại và quản trị nội dung.

Hệ thống VPortal có khả năng sử dụng những hệ thống hạ tầng của bên thứ ba song song hoặc thay thế cho những hệ thống built-in ở trên. Chẳng hạn như nó có thể sử dụng hệ thống quản lý người dùng Active Directory của Microsoft hay LDAP thay cho hệ thống quản lý người dùng built-in. Điều này giúp cho việc người sử dụng chỉ cần 1 tài khoản thông thường của hệ thống mạng văn phòng (thường là Microsoft Windows) sau khi đăng nhập hệ thống mạng văn phòng là tự động được coi là đã đăng nhập hợp lệ vào portal. Sau đó, người sử dụng này được dùng các dịch vụ được cấp quyền cho người dùng hợp lệ đó.

- Database (Cơ sở dữ liệu): dùng để lưu trữ các thông tin dữ liệu của hệ thống, và lưu trữ các thông tin dữ liệu của các ứng dụng. Các database này có thể là SQL Server, Oracle, PostgreSQL, My SQL, DB2, v.v...
- Các kiểu nguồn dữ liệu khác: Một điểm khác biệt của portal với các website truyền thống chính là khả năng khai thác được nhiều nguồn thông tin, dữ liệu với những dạng khác nhau như trực tiếp từ các các cơ sở dữ liệu; từ các dữ liệu dạng XML, HTML, RSS,..; từ các tệp thông tin. Các hệ thống VPortal khác: Các hệ thống VPortal có thể giao tiếp với nhau thông qua các portlet và các portlet proxy, và web service, vì vậy sự liên thông dịch vụ giữa các portal sẽ được đảm bảo. 

2.Mô hình kết nối, tích hợp với hệ thống của các đơn vị như Sở, Ban, Ngành, Quận, Huyện

Các cơ quan trực thuộc tỉnh TP. gồm có các Sở, Ban, Ngành, Quận, Huyện có điều kiện và trình độ khác nhau về ứng dụng CNTT. Đặc thù chức năng quản lý hành chính và quản lý ngành của các cơ quan này lại không đồng nhất. Nhìn chung tại nhiều nơi, nhu cầu ứng dụng CNTT chưa phải là chiến lược trọng tâm của các đơn vị quản lý hành chính, trong khi một số đơn vị thuộc ngành dọc lại có những bước tiến khá xa so với các đơn vị quản lý hành chính như Sở, Quận, Huyện. Mô hình trình bày ở đây có giả thiết là tất cả các đơn vị SBNQH đều có kế hoạch và nỗ lực chủ quan để cộng tác xây dựng hệ thống theo chủ trương của lãnh đạo tỉnh, TP.. Chúng ta có nhiều cách theo nhiều tiêu chí khác nhau để xếp loại các đơn vị SBNQH về độ sẵn sàng ứng dụng CNTT và khả năng tích hợp vào portal của tỉnh, TP.. Một trong những cách xếp loại là xem xét theo cấp độ về cách tiếp cận của SBNQH như thế nào, bao gồm:

- Loại A. SBNQH có hệ thống và qui hoạch rõ ràng theo các kiến trúc mở và trên nền web;
- Loại B. SBNQH có nhiều ứng dụng nghiệp vụ nhưng không có qui hoạch và tầm nhìn hệ thống, các ứng dụng bổ sung qua nhiều thời kỳ, chắp vá;
- Loại C. Và cuối cùng là các SBNQH hầu như chưa có ứng dụng CNTT hoặc chưa có kế hoạch (tạm gọi là “vùng trắng”).

Cách xếp loại này không phụ thuộc vào các tiêu chí xếp loại đa dạng mà mỗi người có góc nhìn riêng của mình, đồng thời giúp chúng ta làm rõ mô hình tích hợp hơn.

Để tích hợp được vào portal, như trên đã nói, không phải là dễ dàng và không phải đương nhiên là tích hợp được, nhưng cũng không quá phức tạp. Các bước đầu tiên là phải làm cho các hệ thống CNTT ở các SBNQH “sẵn sàng tích hợp”, và tiếp theo là tích hợp như thế nào. Để cho gọn, chúng ta ký hiệu SSTH thay cho “sẵn sàng tích hợp”. Trên thực tế, cần có sự hướng dẫn hoặc tư vấn xem “tích hợp như thế nào” rồi mới làm cho các SBNQH “sẵn sàng tích hợp” được. Tuy nhiên những tư vấn này chỉ là các tham mưu về công nghệ sao cho toàn tỉnh, TP. có kiến trúc công nghệ tiến tiến và đảm bảo môi trường mở, mà không có được vai trò chỉ đạo và tổ chức thực hiện như UBND tỉnh, TP., cũng như lãnh đạo tại các SBNQH. Một tâm lý khá phổ biến là tích hợp đồng nghĩa với việc đưa Website của SBNQH lên portal của tỉnh, TP.. Điều này đúng nhưng không đủ. Bên trong Website đó phải có cái lõi của nghiệp vụ và bộ máy cung cấp thông tin, dựa trên phát triển các hệ thống theo 2 hướng hài hòa là quản lý điều hành và chuyên ngành (nếu có).


Theo minh họa trong mô hình cải thiện đồng bộ các SBNQH để đạt được trạng thái SSTH, các đơn vị cơ sở Loại A và Loại C lại có những ưu thế nhất định so với đơn vị Loại B, vì độ phức tạp hệ thống Loại B là rất lớn, cần được phân tích kỹ hơn trong trường hợp cụ thể. Để làm cho lõi nghiệp vụ và bộ máy cung cấp thông tin của SBNQH vận động theo một hướng chung, các bước tiến hành gồm có:

- Điều tra hiện trạng và tư vấn tại SBNQH Nâng cao năng lực hệ thống Chỉnh lý giao tiếp với portal SSTH
- Nâng cao năng lực hệ thống
- Chỉnh lý giao tiếp với Portal
- SSTH

Để trả lời câu hỏi “tích hợp như thế nào” cần phải biết được nhu cầu của SBNQH. Thực tế có thể có 2 loại nhu cầu:

- Tích hợp toàn bộ
- Tích hợp giao diện cung cấp thông tin, dịch vụ 

Ở loại nhu cầu thứ nhất, “văn phòng điện tử” của đơn vị cơ sở nằm trên portal, thông thường thực hiện qua môi trường VPN (mạng riêng ảo). Các Sở Ban Ngành thường không lựa chọn loại tích hợp này do đặc thù và qui mô lớn về nghiệp vụ quản lý ngành của mình, thậm chí có đơn vị ít có giao tiếp với dân. Loại nhu cầu thứ hai dành cho cả các loại hình đơn vị cơ sở là SBNQH. Trong số các đơn vị có nhu cầu này, lại có thể có 2 nhóm nhỏ hơn, đó là: sử dụng Website riêng của đơn vị, và sử dụng toàn bộ giao dịch qua mạng thông qua portal. Bản thân SBNQH cũng có thể có portal riêng của mình rồi tích hợp với portal của tỉnh, TP.. Quận Bình Thạnh (TP. Hồ Chí Minh) đã triển khai portal riêng tại Quận với đầy đủ các ứng dụng cho hệ thống nội bộ, hy vọng một ngày gần đây có thể tích hợp với CityWeb của TP. Hồ Chí Minh.

IV. Kết luận

Đến đây, quí vị có thể chia sẻ các thực tế và nhận thức với các tác giả, hoặc có thêm một cách nhìn nhận và cân nhắc về phát triển cổng giao tiếp điện tử. Đối với lĩnh vực portal và/hoặc ứng dụng CNTT cho quản lý hành chính và dịch vụ công thì các giải pháp mã nguồn mở hoặc xuất xứ từ mã nguồn mở là những lựa chọn tích cực và phù hợp với Việt Nam. Các nỗ lực về kỹ thuật công nghệ chỉ là bước triển khai các nỗ lực về nhận thức và định hướng phát triển tỉnh, TP. với việc coi ứng dụng CNTT như một động lực của sự phát triển đó.

BLOG

 

CHUYÊN NGHIỆP

Dao kéo y khoa khác dao kéo thường.

Kim chỉ y khoa khác kim chỉ thường.

Quần áo y khoa khác quần áo thường.

Phần mềm y khoa cũng vậy, khác phần mềm thường.

Không hiểu y khoa mà làm phần mềm y khoa thì chỉ mang lại hậu quả chứ không mang lại hiệu quả.

Khách hàng phải chọn phần mềm CHUYÊN NGHIỆP

BS. PHAN XUÂN TRUNG

GURU of Medical Informatics

Lãng tử giữa thương trường

Web 2.0 là con đường duy nhất cho CNTT y khoa

HOST & DOMAIN

HUY CHƯƠNG VÀNG ICT VIETNAM 2006

CÚP VÀNG SOFTMART 2005

HUY CHƯƠNG VÀNG
SẢN PHẨM CHẤT LƯỢNG VÌ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG - 2006

Tham khảo

 

Khi nói về CNTT Việt Nam
thế giới sẽ nghĩ về
CNTT Y KHOA

 

YKHOA.NET

QUẢN LÝ BỆNH VIỆN TOÀN DIỆN

Website đã được thông báo tại Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam

http://www.host-spy.com/alexa/htmedsoft.com/