| |||||||
Hệ thống chẩn đoán hình ảnh PACS
Hệ thống nhận dạng bệnh nhân
Bệnh nhân xem bệnh án trên mạng Internet
Hội chẩn từ xa qua mạng Internet
Kết nối tự động thiết bị y khoa điện tử
Bệnh án điện tử di động
|
Định giá phần mềmMột trong những khó khăn khi ứng dụng CNTT vào bệnh viện là khâu định giá phần mềm và lập dự toán kinh phí. Muốn quản lý chi tiêu cho phần mềm nhằm hiện đại hóa công tác quản lý hành chánh nhà nước nhưng cho đến nay các cơ quan chức năng vẫn chưa có văn bản chính thức về các vấn đề này. Có ý kiến dự toán xây dựng phần mềm như xây dựng nhà cửa, có ý kiến dựa vào công lao động, có ý kiến lại dựa vào điểm chức năng của phần mềm. Tuy nhiên tất cả các ý kiến đó đều không ứng dụng được vào thực tế. Khó có thể xác định giá trị bằng tiền cho một sản phẩm sinh ra từ chất xám vì nó không cân đong đo đếm được. Không thể dựa vào cách tính của ngành xây dựng vì làm phần mềm không cần mua vật tư như xi măng, sắt, thép... Các tiêu chí của ngành xây dựng rất cụ thể, có thể đo lường được còn phần mềm thì không. Không thể dựa vào ngày công lao động vì đối với lao động trí óc việc giải quyết vấn đề càng nhanh thì lại có giá trị hơn giải quyết vấn đề chậm hơn (dĩ nhiên là cùng 1 kết quả). Nhà cung cấp tốt có thể mất rất ít thời gian và công sức để hoàn thành phần mềm. Ngược lại họ có thể mất nhiều thời gian và công sức, nhưng sản phẩm phần mềm hoàn toàn không có giá trị sử dụng hoặc không phù hợp với nhu cầu thực tế hoặc có quá nhiều lỗi cần khắc phục. Không thể dựa vào điểm chức năng của phần mềm vì người ta khó có thể xác định thế nào là điểm chức năng và giá trị bằng tiền của một điểm chứ năng. Điểm chức năng có thể chỉ là một option về màu sắc, kiểu chữ đơn giản hay cả một công thức nát óc cho bài toán Bảo Hiểm Y Tế. Ngày nay người ta đã quen thuộc với các từ như freeware (phần mềm miễn phí), shareware (phần mềm hạn chế chức năng), trial hay demo (sử dụng thử trong thời hạn ngắn), opensource (phần mềm mã nguồn mở)... Theo đó thì giá tiền bỏ ra và lợi ích thu được từ sử dụng phần mềm không song hành với nhau. Freeware là phần mềm miễn phí nhưng vẫn đầy giá trị sử dụng. Open-source là phần mềm mã nguồn mở, thường là miễn phí nhưng cũng đầy hữu dụng, mang lại cho người dùng sự hài lòng. Firefox là phần trình duyệt web miễn phí và opensource nhưng tính năng vượt trội xa so với Internet Explorer. Khác với phần mềm miễn phí (đa phần là do các "tài tử nghiệp dư" làm lấy niềm vui từ việc giúp cộng đồng là chính) thì đối với sản phẩm thương mại người ta cần bù đắp lại sức lao động và mong có thặng dư để mở rộng sản xuất càng nhiều càng tốt. Khi đưa sản phẩm ra thị trường, nhà kinh doanh mong muốn bán được sản phẩm ở mức giá cao nhất có thể được. Giá tiền của sản phẩm dừng ở một mức giá nào đó tùy theo sự chấp nhận của người mua. Người mua sẽ tự nhìn nhận thấy giá tiền mình bỏ ra và lợi ích thu lại được từ việc mua sản phầm đó. Bộ phần mềm Office của Microsoft không phải bán ra ở mức chi phí mà Microsoft đã đầu tư. Người sử dụng chỉ mua bộ đĩa có vài trăm dollars và cảm thấy hài lòng với những tính năng mà nó mang lại. Tuy nhiên người dùng sẽ không bỏ tiền ra để mua bộ đĩa nếu nó vượt quá tầm chi trả của họ. Ở Việt Nam hầu hết ai cũng xài chùa phần mềm Windows và bộ MS Offices. Giá phải trả là 8.000 đồng một đĩa CD với hàng trăm phần mềm tích hợp sẵn trong đó! Như vậy, việc cố công để tìm ra một công thức tính giá cho tất cả phần mềm là điều không tưởng, bất khả thi. Trên thực tế, việc mua bán phần mềm sản xuất tại Việt Nam đã xảy ra thông qua sự thỏa thuận giữa khách hàng và nhà cung cấp. Nhà cung cấp cảm thấy giá bán sản phẩm có thể bù đắp xứng đáng công lao của mình; người mua cảm thấy hài lòng vì phần mềm mang lại lợi ích cụ thể cho mình như là quản lý nhanh gọn, chính xác, tiết kiệm nhân lực, nâng cao uy tín, giảm rủi ro... Người mua sản phẩm có quyền so sánh giá tiền và tính năng sản phẩm của các nhà cung cấp khác nhau. Nếu có nhiều nhà cung cấp thì tính cạnh tranh tăng cao và kéo giá sản phầm xuống đến mức nhà cung cấp chấp nhận được. Nếu sản phẩm là độc quyền hay không có chọn lựa khác thì người mua chỉ còn cách cân nhắc cost - benefite thôi. Không khác với việc mua hàng hóa khác, như mua một lon nước ngọt chẳng hạn, người mua sẽ tự cảm nhận việc mua sản phẩm phần mềm có thỏa mãn được nhu cầu của mình hay không. Một ví dụ thực tế, Khoa Khám Theo Yêu Cầu bệnh viện Bạch Mai đã bỏ ra 200 triệu đồng để mua phần mềm quản lý khoa khám của công ty Hoàng Trung vào đầu năm 2007. Cùng điều kiện về cơ sở vật chất và năng lực nhân sự, khoa khám theo yêu cầu BV Bạch Mai đã có doanh thu và lợi nhuận vượt trội so với các cơ sở khác. Trong năm đầu tiên hoạt động đã doanh thu 18 tỷ, lợi nhuận trước thuế khoảng 8 tỷ. Số tiền bỏ ra để đầu tư phần mềm (200 triệu) không thấm tháp gì so với lợi tức thu được (8 tỷ). Dĩ nhiên Khoa khám này tiếp tuc sử dụng phần mềm cho những năm sau mà không cần phải mua lại. Lợi ích này chưa nói đến giá trị vô hình khác là sự hài lòng của bệnh nhân và sự thoải mái của nhân viên khoa khám. CNTT phát triển đã làm thay đổi nhiều quan niệm truyền thống, biết trái đất tròn thành thế giới phẳng, làm thay khoảng cách không gian và thời gian, xóa tan tất cả các quy ước thông thường. CNTT làm thay đổi quản lý và tư duy quản lý. Vì vậy việc tìm cách dùng phương pháp quản lý cũ để áp dụng cho CNTT là điều không thể. BS PHAN XUÂN TRUNG 11/05/2008 |
Khi nói về CNTT Việt Nam thế giới sẽ nghĩ về CNTT y khoa
BS PHAN XUÂN TRUNG Henry Ford nói “Hãy cứ làm thật tốt, đưa ra sản phẩm/dịch vụ thật tốt, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, rồi tự nhiên tiền sẽ đến”.
HUY CHƯƠNG VÀNG ICT VIETNAM 2006
CÚP VÀNG SOFTMART 2005
HUY
CHƯƠNG VÀNG CNTT y tế thế giới eHealth for Health Care Delivery Microsoft tập trung vào ứng dụng web
Tham khảo
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
YKHOA.NET
|